Nhiều tác giả Kinh Thánh cẩn thận cho thấy rằng những biến cố và nhân vật mà sách họ đề cập đến đều có nguồn gốc trong lịch sử đã qua, bởi vì điểm mạnh của Kinh Thánh nằm ở tính liên tục không hề gián đoạn của lịch sử, và ở lòng chung thuỷ của một Thiên Chúa luôn giữ lời hứa của mình. Đó là ý nghĩa của gia phả này. Còn ngôn ngữ của Mt, như ngôn ngữ chung của Kinh Thánh, thì thích gọi gia phả là “sách cội nguồn” hơn.  <br><br>
Danh sách này gồm 42 tên người được chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm 14 tên, mà 14 là một con số có tính tượng trưng đối với người Do-thái. Dĩ nhiên đây không phải là một danh sách đầy đủ. <br><br>
Chúa Giê-su là <i>con cháu tổ phụ Áp-ra-ham,</i> tổ phụ của những người tin ; Thiên Chúa đã hứa với ông rằng tất cả mọi dân tộc sẽ tề tựu quanh dòng dõi ông. Chúa Giê-su cũng là <i>con cháu vua Đa-vít,</i> và mọi người đều biết rằng Đấng Cứu Độ sẽ là hậu duệ của vua Đa-vít. <br><br>
Các tên thuộc nhóm thứ nhất được ghi trong <scripRef>R 4:18-22</scripRef>. Các tên của nhóm thứ hai là tên các vua thuộc dòng dõi Đa-vít, được ghi trong sách các Vua. Kinh Thánh không nói gì về hậu duệ Dơ-rúp-ba-ven (Er 3 – 4). <br><br>
Danh sách ghi đến tên ông Giu-se là cha nuôi của Đức Giê-su. Trong xã hội Do-thái, tương quan nghĩa phụ nghĩa tử cũng đủ để cho Chúa Giê-su được thừa nhận là con cháu vua Đa-vít, y như ông Giu-se.<br><br>
Bốn tên trong danh sách là của những phụ nữ được Kinh Thánh nói đến:<i> Ta-ma,</i> người đã làm hết cách để giành lại lời chúc lành của Thiên Chúa (St 38), <i>Ra-kháp,</i> một gái điếm ngoại bang (Gs 2), <i>Rút,</i> một gái ngoại bang khác, đức hạnh mẫu mực, và <i>vợ của U-ri-gia</i> là Bát Se-va, người đàn bà diễm lệ đã cùng phạm tội với vua Đa-vít.<br><br>
Toàn bộ hậu cảnh này tiên báo một cách kín đáo Đấng sẽ đến cứu độ người tội lỗi, và rộng đón muôn dân muôn nước vào vương quốc Ít-ra-en. Đấng Cứu Độ là hoa quả của trái đất chúng ta cũng như của dân tộc được Thiên Chúa chọn (<scripRef>Is 45:8</scripRef>). Về mặt nhân bản cũng như thiêng liêng, Thiên Chúa đã đưa dân Do-thái đến mức độ chín muồi này, để cuộc xuất hiện và lời rao giảng của Chúa Giê-su mang đầy đủ ý nghĩa.<br><br>
Chúa Giê-su xuất hiện ở cuối con đường dài của một lịch sử mang dấu ấn khổ đau và tội lỗi, nhưng cũng rạng lên ánh sáng hy vọng và ân sủng. Chúng ta cũng vậy, chúng ta liên đới với Chúa Giê-su trong tình đồng loại trước khi liên đới với Người trong đức tin. Lịch sử hiện đại của chúng ta, lịch sử gia đình chúng ta, dọn đường cho cuộc giáng lâm lần thứ hai của Người.<br><br>
Ở <scripRef>Lk 3:23</scripRef>, chúng ta có một gia phả khác của Chúa Giê-su làm nổi bật mối dây liên đới của Người với toàn thể nhân loại. 

Chúng ta đã lưu ý cái bước ngoặt ở c. <scripRef>16</scripRef>: Chúa Giê-su không phải là con ông Giu-se. Đoạn văn bắt đầu ở đây muốn nhắc nhở rằng Chúa Giê-su là hậu duệ hợp pháp của vua Đa-vít, đồng thời cũng là Con Thiên Chúa đầu thai làm con một người trinh nữ bởi quyền năng Thánh Thần.<br><br>
Những câu văn ngắn ngủi gần như có phần rụt rè này chỉ là những nét chấm phá về mầu nhiệm của Đức Ma-ri-a, người trinh nữ đã dâng lên Thiên Chúa cuộc đời trần thế của mình làm hiến lễ tôn thờ. Một sứ giả vụt xuất hiện trong bóng tối : một cuộc đối thoại trầm lặng, và thế giới mở cửa ra đón mừng sự hiện diện đầy năng động của Thiên Chúa. Về sự đồng trinh của Đức Ma-ri-a, x. <scripRef>Lk 1:26</scripRef>. <br><br>
<i>Bà Ma-ri-a đã thành hôn với ông Giu-se.</i> Trong xã hội Do-thái thời bấy giờ, lễ đính hôn đã trao cho đôi bên tất cả mọi quyền lợi vợ chồng ; mặc dù vậy, bên nữ vẫn tiếp tục ở nhà cha mẹ và dưới sự bảo hộ của cha mẹ, không hưởng quyền lợi cụ thể nào cũng như không có tự do chi cả. Như ở nhiều nơi, phụ nữ Do-thái phải giữ luật tam tòng (tất yếu thuộc quyền một người đàn ông : cha, chồng, con trai trưởng nếu chồng chết). Vậy Đức Ma-ri-a đã là vợ ông Giu-se, nhưng chỉ thuộc quyền ông khi được ông đón về nhà (cc. <scripRef>20</scripRef> và <scripRef>24</scripRef>).<br><br>
Sự đồng trinh của Đức Ma-ri-a đi ngược lại não trạng người Do-thái, bởi họ xem việc sinh con là cao trọng hơn cả. Tuy nhiên, ông Giu-se mà chấp nhận hoàn cảnh này cũng không phải là điều không thể tưởng được. Thật vậy, vào thời ấy, đã có nhóm người phái Ê-xen sống độc thân như đan sĩ.<br><br>
<i>Ông Giu-se định tâm bỏ bà cách kín đáo.</i> Tin Mừng không nói rõ Đức Ma-ri-a có báo cho ông Giu-se biết hay không, nhưng dù sao, khó tưởng tượng rằng ông Giu-se nghi ngờ lòng chung thuỷ của Đức Ma-ri-a. Không ai trong đôi bạn có thể phản bội người kia, ông biết như vậy.<br><br>
Theo Tin Mừng, sứ thần Chúa không đến can thiệp để trấn an ông, nhưng là để thông tin cho ông biết vai trò của ông trong kế hoạch của Thiên Chúa: <i>Ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su</i> và sẽ nhận nó làm con của ông. Ông là hậu duệ vua Đa-vít, và như vậy, trẻ Giê-su, nghĩa tử của ông, sẽ là hậu duệ hợp pháp của Đa-vít. Rất có thể Đức Ma-ri-a không thuộc chi tộc Giu-đa, là chi tộc của dòng họ Đa-vít, mà thuộc dòng dõi một tư tế trong chi tộc Lê-vi, giống như người chị họ là bà Ê-li-sa-bét.<br><br>
<i>Ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su.</i> “Giê-su” là một dạng của từ “Giê-su-a” (có nghĩa là <i>Đức Chúa cứu</i>), một tên Do-thái rất gần với “Giô-suê”. Và cái tên này nói lên con trẻ sẽ làm gì mai sau.<br><br>
Tác giả Mt dẫn một lời sấm của I-sai-a (<scripRef>Is 7:14</scripRef>) loan báo mầu nhiệm của Chúa Giê-su : Người là dòng dõi vua Đa-vít và hiện thân của Thiên Chúa trên trần gian. <i>Em-ma-nu-en, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.</i> Đây là một cách nhắc nhớ mầu nhiệm bản thân Người. Đức Giê-su, con bà Ma-ri-a trong lịch sử, là Con Một Thiên Chúa Cha sinh ra từ trước muôn đời, và Người không thể nào có hai cha được. Phải hiểu ý nghĩa vai trò làm nghĩa phụ của thánh Giu-se như thế đó : nó có liên hệ tới và bảo vệ cả một mầu nhiệm.   



* 2,1
 Vào thời kỳ các sách Tin Mừng được biên soạn, văn chương Do-thái thích đưa ra những truyện thuật lại thời thơ ấu của các người hùng trong Kinh Thánh : truyện ông Áp-ra-ham, truyện ông Mô-sê vừa được viết xong. Tương truyền rằng một ngôi sao đã báo cho vua Pha-ra-ô biết một vị cứu tinh của người Híp-ri sắp chào đời, do đó nhà vua quyết định giết chết tất cả các bé trai, nhưng Mô-sê đã được cứu thoát. Trong giới người Ki-tô hữu cũng vậy, có những truyện dân gian thuật lại những mẩu truyện về thời thơ ấu của Chúa Giê-su mà Tin Mừng không hề ghi chép.<br><br>
Chinh trong bầu khí này mà tác giả Mt mượn lại một số truyền thuyết. Đây là cơ hội cho ông nói rõ, như trong một lời tựa của Tin Mừng, sứ mạng của Chúa Giê-su là thế nào : bởi vì Người bị đồng bào ruột thịt không đón nhận lại còn ngược đãi, nên Người sẽ đi loan báo Tin Mừng cho những người không thuộc dân Do-thái. Mt trích nhiều lần Cựu Ước, và mỗi lần lại thêm : “thế là ứng nghiệm”. Đó là cách Mt mời gọi chúng ta đọc lại một số đoạn văn Cựu Ước. Đúng là các đoạn văn này nói về dân Ít-ra-en, nhưng lại tiên báo Chúa Giê-su một cách huyền bí : theo một nghĩa nào đó, Chúa sống những kinh nghiệm mà dân Người đã sống trước đó : những hành trình, tìm kiếm, những niềm vui và tang tóc, nhưng với Người thì tất cả đều mang một ý nghĩa mới.<b>
<i>Các nhà chiêm tinh</i> là những tư tế được kính nể của đạo Da-ra-thu-sơ-tra, lại còn là những nhà thiên văn học và thầy bói toán. Ở đây, các ông đại diện cho những tôn giáo không biết đến Kinh Thánh. Hàng tư tế và lãnh đạo của dân Do-thái không đón nhận tin vui Chúa Giê-su chào đời, mà Thiên Chúa lại ban cho một số bạn hữu của Người thuộc dân ngoại được biết tin ấy. Bài học này có giá trị cho mọi thời đại : Chúa Giê-su là Đấng Cứu Độ của tất cả mọi dân tộc chứ không chỉ riêng cho những ai thuộc thành phần Hội Thánh mà thôi.<br><br>
Ngôi sao ở đây gợi ý rằng Thiên Chúa ra dấu kêu mời mỗi người chúng ta từ cá tính riêng biệt và những suy tư rất quen thuộc mà mỗi người sẵn có. Người gọi các ông ngư phủ khi họ đi đánh cá về, và dùng một ngôi sao để chỉ đường cho các nhà thiên văn học đến với Người. Con đường dù đi từ đâu cũng sẽ dẫn đến Đấng chiếu toả vinh quang Thiên Chúa.   

* 2,13
 Bài trình thuật cuộc trốn sang Ai-cập và vụ thảm sát các hài nhi vô tội làm nổi bật sự liên đới của Chúa Giê-su với những khổ đau quá khứ và hiện tại của dân Người. Hai câu trích dẫn sách ngôn sứ Hô-sê và Giê-rê-mi-a nhắc lại những chặng đường ấy.<br><br>
Chúa Giê-su sẽ đi theo hành trình dẫn đưa từ đất lưu đày cho đến Đất Hứa, và Người sẽ nếm mùi đau khổ lo sợ mà tổ tiên Người đã từng trải qua. Những cơn bách hại bắt đầu ngay từ thuở Người mới sinh và sẽ đeo đuổi Người cho đến khi chết.<br><br>
Vua Hê-rô-đê này đâu tồi tệ gì hơn các thủ lãnh ở bất cứ thời đại nào, ham quyền thủ lợi hơn là phục vụ. Nhưng kẻ thù Tin Mừng dù có gây đổ máu bao nhiêu đi nữa cũng không tài nào bóp nghẹt được Giáo Hội hay đánh bại kế hoạch của Thiên Chúa.<br><br>
Truyền thống Giáo Hội vẫn luôn khẳng định rằng các hài nhi bị sát hại thay cho Chúa đây, dù kể như không có công trạng gì, cũng được chia sẻ vinh quang của Chúa. Như vậy chúng ta cũng được phép nghĩ rằng tình yêu nhiệm mầu của Thiên Chúa ấp ủ bao triệu trẻ em bị tàn sát cũng như những triệu triệu trẻ em khác bị giết chết khi chưa kịp mở mắt chào đời. Phải nghĩ thế nào về ngần ấy tiềm năng bị chà đạp ? Chính những người và những xã hội có trách nhiệm trong các vụ này sẽ chuốc lấy hậu quả : họ đã gieo mầm chết vào tận cội rễ dòng giống của mình. Nhưng Thiên Chúa nắm giữ trong tay số phận của hết mọi người, biết trước tất cả, và không một kẻ sát hại mạng sống con người nào có thể giới hạn lượng hải hà của Thiên Chúa.  

* 2,19
 Trở về Na-da-rét. Nơi đây chấm dứt các bài trình thuật có thể xem như là lời tựa của Tin Mừng theo tác giả Mt. Nó nói lên sứ mạng của Chúa Ki-tô : là Vị Cứu Tinh bị đồng bào ruột thịt mình ruồng rẫy, bị nhà cầm quyền truy nã, Người sẽ quay về phía các dân ngoại. Chúa Giê-su phải sống ba mươi năm trời trong ngôi làng nhỏ bé này của miền Ga-li-lê – mà người Do-thái miền Giu-đê kể như là một tỉnh ngoại bang và ngoại đạo (4,15). Nơi đây, Người lớn lên và lao động như một bác thợ (Mc 6,3) trong khi thế giới mong chờ được cứu độ.  

* 2,21
 Người sẽ được gọi là người Na-da-rét. Ở đây Mt chơi chữ với “nét-xe” nghĩa là mầm non (Is 11,1) và “na-dia” nghĩa là người thuộc về Thiên Chúa (Ds 6). Thời ấy, có những nhóm người đạo đức đi giảng thuyết và làm phép rửa giống như ông Gio-an Tẩy Giả, và họ được coi như những “na-dia”. Chúa Giê-su vừa là “nét-xe” vừa là “na-dia”. Nhiều người tự hỏi Chúa Giê-su đã làm gì giữa tuổi mười hai, khi Người gây chú ý trong Đền Thờ (<scripRef>Lk 2,41</scripRef>), và tuổi ba mươi hoặc hơn nữa, khi Người bắt đầu cuộc đời công khai. Một vài kẻ giả danh thừa khoảng trống trong Tin Mừng để tưởng tượng Chúa Giê-su đi qua Ấn-độ học nghề phù thuỷ và thuật làm phép lạ với các nhà khắc kỷ Ấn giáo, hay còn kỳ thú hơn nữa, đi thăm viếng người ngoài hành tinh ! Bày đặt chuyện gì lại không được.  Trước hết phải nhắc lại rằng sách Tin Mừng không phải là một tập sách “cuộc đời Chúa Giê-su”, kể truyện từ lúc Người chào đời cho đến lúc chết. Tin Mừng chỉ muốn nói cho chúng ta biết những lời quan trọng nhất mà Chúa Giê-su đã nói, và những hành vi cử chỉ có liên can đến thông điệp cứu độ của Người mà thôi. Hai Tin Mừng theo thánh Mác-cô và thánh Gio-an bắt đầu từ phép rửa Chúa Giê-su lãnh nhận từ tay ông Gio-an Tẩy Giả, đánh dấu bước đầu công cuộc rao giảng của Chúa. Sau này, hai tác giả Mt và Lc muốn thêm vào đó, như một lời tựa, các bài trình thuật về thời thơ ấu, để giúp chúng ta am hiểu con người huyền bí của Chúa.  Thứ đến, chúng ta hãy đọc Mt 13,54-56. Khi dân làng Na-da-rét kinh ngạc thấy các phép lạ Chúa Giê-su làm, họ đâu có nói : “Ông ấy đã sống lâu năm ở nước ngoài, chắc đã học được nghề ở đấy !” Nhưng họ đã tự hỏi : Chuyện gì đã xảy ra cho con bác thợ mộc vậy ? Chúng ta biết ông ấy từ lâu, sao lại có chuyện này ! Thứ ba là chúng ta hãy cố gắng hiểu rằng lời Thiên Chúa cũng đồng thời là một lời phàm nhân. Các ngôn sứ là những người đã kinh nghiệm những biến động mạnh và họ có điều gì đó muốn nói lên. Lời nói của họ phát xuất từ con người của họ mà cũng từ Thần Khí Thiên Chúa. Chúa Giê-su đã không thể truyền thông lời Thiên Chúa nếu như, với tư cách là con người trần thế, Người không am hiểu lòng dạ con người. Những năm sống tại Na-da-rét đâu phải là những năm bỏ đi. Chúa Giê-su đã hấp thụ văn hoá dân tộc mình, đã sống những biến cố xảy ra trên quê hương mình ; Chúa đã biết thế nào là lao động tay chân, kinh qua những tương quan trong xã hội, nếm chịu đau khổ và áp bức. Không có tất cả những cái đó, Chúa không thể làm Đấng cứu độ chúng ta. Nơi Chúa Giê-su, kinh nghiệm làm người và bản tính Thiên Chúa có tác động ngang nhau để cho tiếng nói của Người trở thành lời chân lý.  

* 3,1
 Như vừa nói, Tin Mừng Mt bắt đầu thật sự với phần rao giảng của ông Gio-an Tẩy Giả. Ở đây, Mt so sánh Chúa Giê-su với ông Gio-an, phép rửa của ông Gio-an và phép rửa của Chúa. X. phần bình giải Mc 1,1 và Lc 3. Qua việc lãnh nhận phép rửa này, Chúa Giê-su tự đồng hoá mình với dân Người, nói rõ hơn, với hạng người vô danh tiểu tốt đang kéo đến nghe một người kêu gọi dân sám hối. Đây là cơ hội cho Chúa sống một kinh nghiệm tôn giáo sâu xa tương tự kinh nghiệm các ngôn sứ lớn. Tiếng từ trời nói gì ? Nó trao sứ mạng cho Chúa, Chúa sẽ là người Con và tôi tớ của Chúa Cha (Tv 2 và Is 42,1).  


* 4,1
 Một phần bình giải biến cố này ở Lc 4,1-13. Như vậy Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa theo nghĩa mà người ta hiểu từ này vào thời ấy : Người được sai phái với tư cách là vua, ngôn sứ và cứu tinh, và Người biết như vậy. Nhưng Người sẽ thể hiện những vai trò ấy như thế nào, và Thiên Chúa sẽ đối xử thế nào với người con này đây ? Đó là vấn nạn sắp được đặt ra, mà cuộc thử thách sẽ làm sáng tỏ. Thử thách sẽ kéo dài suốt thời gian Chúa Giê-su thi hành sứ vụ của Người : những kẻ chống đối sẽ đòi những điềm thiêng dấu lạ, và chính các môn đệ sẽ nài xin Người lo cho bản thân Người nhiều hơn. Đoạn văn Mt lược thuật cho chúng ta hiểu cuộc thử thách thường nhật này qua ba cơn cám dỗ. Nhưng tác giả cố ý chọn hoang địa làm khung cảnh, đặt bài tường thuật ngay ở đầu đoạn văn, và khẳng định rằng Chúa Giê-su đã chiến thắng ác thần ngay trước khi khởi đầu sứ vụ. Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày. Bốn mươi ngày là thời gian có giá trị tượng trưng cho bốn mươi tuần thai nghén, thời gian chuẩn bị một cuộc sinh nở mới. Đó là thời gian đã được ghi chép trong cuộc đời hai ông Mô-sê và Ê-li-a : Xh 24,18 ; 1 V 19,8. Đối với Chúa Giê-su, đây là thời gian thử thách, như đối với ông Áp-ra-ham khi được lệnh đem con đi sát tế, như đối với ông Mô-sê trong vụ con bò vàng. Đang khi Chúa Giê-su cảm thấy tinh thần được kiên định nhờ chay tịnh, hoàn toàn sáng suốt, thì ma quỷ tìm hết cách để thuyết phục Người rằng không thể nào chu toàn sứ mạng nếu theo đường lối Thiên Chúa dạy. Điều kỳ lạ là Tin Mừng trình bày cuộc chạm mặt giữa Chúa Giê-su và quỷ cám dỗ (“tên cám dỗ”, là nghĩa của từ “ma quỷ”) như một cuộc tranh luận giữa hai nhà luật sĩ nảy sinh từ lời Kinh Thánh ; có lẽ mục đích là giúp cho ta hiểu rằng ngay cả lời Kinh Thánh cũng có thể làm cho ta lạc hướng nếu ta không có tinh thần vâng phục Thiên Chúa. Ba cơn cám dỗ nhắc ta nhớ lại những cám dỗ mà dân Híp-ri đã kinh qua trong sa mạc ( Xh 16,2 ; 17,1 ; 32). Tại suối nước Ma-ra, dân kêu trách Thiên Chúa đã dẫn họ đi một con đường quá gian khổ ; tiếp theo là họ thử thách Người : “Đức Chúa có làm gì được cho ta không ?” Cuối cùng, họ đổi Thiên Chúa, đã từng là niềm vinh dự của họ, để thờ một thần minh khác tự tay họ tạo ra cho vừa tầm của mình : đó là con bò vàng. Và để trả lời, Chúa Giê-su dẫn ba câu trong Đệ nhị luật, một cuốn sách kể rõ những cuộc nổi loạn của dân Chúa trong sa mạc. Lòng vâng phục hoàn hảo của Con Thiên Chúa tương phản với những bất trung của dân. Qua cơn thử thách, Chúa Giê-su đã thắng trận, nhưng Hội Thánh của Người sẽ còn phải đối phó với những cám dỗ tương tự. Hội Thánh có thể bị cám dỗ làm thoả mãn những ước vọng của người đời thay vì đem tặng họ ơn cứu độ đích thực. Chúa Giê-su dạy chúng ta phải kiên cường trước những cạm bẫy của ma quỷ, bằng cách dựa vào lời Kinh Thánh, như Người đã làm.  Các sứ thần tiến đến hầu hạ Người. Sau khi đẩy lui cơn cám dỗ, Chúa Giê-su được hoàn toàn bình an. Trái tim trong sáng của Người được đưa vào một thế giới linh thiêng vô hình nhưng thiết thực không kém thế giới xung quanh ta. Vì là Con Thiên Chúa, Người hiển trị giữa các thiên thần đang hầu cận trước tôn nhan của Cha Người.  


* 4,17
 Nước Trời đã đến gần. Người Do-thái thời ấy sợ phạm huý nên không kêu tên Thiên Chúa, và thường thì nói “Trời” để thay cho tên Chúa (x. phần bình giải 5,1). Nước Trời là Nước Thiên Chúa. Thiên Chúa đến ngự trị giữa chúng ta, có nghĩa là ngay từ bây giờ, Thiên Chúa đã dứt khoát ban ơn cứu độ cho chúng ta. Anh em hãy sám hối. Động từ được dùng ở đây có nghĩa là “rẽ qua con đường khác”, nhưng cũng có thể hiểu nhiều cách. Trên môi miệng ông Gio-an Tẩy Giả, nó có nghĩa : quay lưng với tội lỗi. Đối với Chúa Giê-su, “sám hối” là bắt đầu một nếp sống mới do một cuộc hoán cải nội tâm ; đó là công trình của Chúa Thánh Thần trong lòng chúng ta.  


* 5,1
 Đức Giê-su lên núi. Khung cảnh nơi Mt đặt trình thuật Bài Giảng trên núi là một trong những ngọn đồi nằm dọc biển hồ Ti-bê-ri-a. Nhưng vẫn viết là “núi” để nhắc ta nhớ núi Xi-nai, nơi ông Mô-sê đã nhận Luật Chúa (Xh 19). Lý do là vì trong diễn từ đầu tiên này của Chúa Giê-su (x. Dẫn Nhập), Mt giới thiệu Chúa như vị Thầy sắp ban cho Ít-ra-en và toàn thể nhân loại điều Luật mới, có hiệu lực vĩnh viễn. Công thức Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết sẽ trở lại đến sáu lần, để nhấn mạnh sự đối chọi giữa Luật Mô-sê và Luật mới. Nhưng không nên hiểu sai nghĩa chữ Luật này. Luật trước hết không phải là các điều răn, mà là giáo huấn của Thiên Chúa. Trước hết chính những lời tuyên bố của Thiên Chúa đã xác lập Ít-ra-en thành dân riêng của Người, được trao cho một sứ mạng trong thế giới. Phúc thay ! Đoạn đầu tiên này cho chúng ta thấy dân mới của Thiên Chúa được Người ban Luật. Trước kia, Luật đã được ban cho “con cháu Áp-ra-ham và Ít-ra-en” mà ông Mô-sê đã đưa ra khỏi Ai-cập. Nhiều đoạn Kinh Thánh viết : “Ít-ra-en, ngươi thật có phúc”, nghĩa là ngươi thật may mắn được chọn, và thật là một ân huệ lớn lao được làm dân Thiên Chúa ; ngươi thật có phúc vì được Thiên Chúa trao gửi lời Người (Đnl 33,29 ; Tv 144,15 ; Br 4,4). Rồi đột nhiên Tin Mừng nói về một dân khác của Thiên Chúa. Không còn là đoàn dân gồm 12 chi tộc, với miền đất, ngôn ngữ riêng của nó, với những ranh giới và những tham vọng quốc gia nữa, nhưng là một dân gồm những người mà Thiên Chúa đi tìm từ giữa mọi dân mọi nước. Và họ là ai, những người mà Thiên Chúa tuyển chọn và phải tự hào được diễm phúc hưởng ơn gọi ấy ? Thưa đó là những kẻ nghèo khó, những ai buồn khổ khóc than, những người đã bao lần toan nguyền rủa số phận, những tội lỗi và những mâu thuẫn của chính mình. Ở đây, Mt trình bày tám mối Phúc, trong khi Lc 6,20-26 chỉ cho ba mối (người nghèo, người đói và kẻ khóc than). Nhưng điều này không quan trọng, bởi vì thật ra, tất cả đều cùng triển khai một chủ đề duy nhất. Điểm khác biệt chính yếu giữa Mt và Lc nằm ở chỗ các mối phúc được trình bày cho hai nhóm người khác nhau. Chúa Giê-su tuyên bố các mối phúc làm sao, Lc ghi lại y như vậy. Chúa đang nói với đám người bình dân, và Người nói năng như một người cùng giai cấp với họ. Chúa tuyên bố thẳng thừng, không nói bóng bẩy, y như các ngôn sứ : Anh em là kẻ nghèo, anh em là những người đầu tiên được hưởng các lời hứa của Thiên Chúa. Mt thì ngược lại, nhắm tới thành phần Ki-tô hữu. Giáo Hội đã lan ra rộng rãi, và các cộng đoàn thuộc những tầng lớp xã hội rất khác nhau : người nô lệ, dân chất phác và người giàu có. Vậy khi tác giả Mt đặt lên miệng Chúa Giê-su những lời khen chúc này thì đó là một cách ông chiêm ngắm những việc Chúa đã thực hiện nơi họ : Phúc thay những ai đã lãnh nhận thần khí của Thầy, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa. Rồi ông thêm vào danh sách ấy những người xây dựng hoà bình và những ai có tâm hồn trong sạch. Vậy là Lc cho biết phải rao giảng Tin Mừng cho ai trước tiên : cho những hạng người bị xã hội rẻ rúng và có nhiều khó khăn hơn. Tác giả Mt thì khác : ông nhắc nhở chúng ta về ơn gọi của mình, đồng thời chỉ cho thấy phải làm thế nào để được xứng với Thiên Chúa, Đấng đã chọn chúng ta.  Những người được xem là có phúc không phải do đau khổ mà có phúc : hiểu như vậy thì rất khó nghe. Họ có phúc là vì Nước Trời được mở ra tiếp đón họ. Nước Trời là của họ (c.3), và ngay sau đó họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. Đất và Trời ở đây có mâu thuẫn nhau không ?  Trước hết, phải hiểu chữ Trời theo nghĩa nó được dùng vào thời Chúa Giêsu. Người Do-thái hết sức tôn sùng danh xưng Thiên Chúa, nên rất sợ phạm huý. Vì vậy họ dùng những từ khác thay cho danh xưng ấy, như là Trời, Vinh Quang, Quyền Lực. Nước Trời hiểu sát nghĩa là Nước Thiên Chúa, giống như Cha trên trời có nghĩa là Thiên Chúa Cha vậy. Trên môi miệng Chúa Giê-su, Nước Trời thường không chỉ về phần thưởng dành cho chúng ta sau khi chết (khi đó sẽ là Nước của Cha), nhưng chỉ về Triều Đại Thiên Chúa đến với chúng ta trên trần gian này cùng một lúc với Chúa Giê-su. Cũng vậy, phải hiểu chữ Đất theo đúng nghĩa của nó. Trong Kinh Thánh, chữ này chỉ đất Pa-lét-tin, vì chính đó là nơi mà Thiên Chúa đến cứu dân Người. Tin Mừng cũng không cho đối lập cái vật chất và cái thiêng liêng – thật ra trong toàn bộ Tin Mừng, không thấy có từ “thiêng liêng” ở đâu cả. Khi Thiên Chúa dùng miệng các ngôn sứ mà phán dạy, thì Người hứa ban cho dân Người một thế giới trong đó mọi nhu cầu sẽ được thoả mãn : nào là những bữa tiệc ngon (Is 25,6), cuộc đời trường thọ, nào là nước dư thừa để tưới đất đai, ơn giải thoát khỏi mọi áp bức, một vương quốc công bằng. Nhưng hơn tất cả những thứ ấy là Thiên Chúa sẽ đến ở với loài người và thông ban cho họ Thần Khí của Người : Chúng sẽ là dân của Ta, và Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng (Ed 37,23). Trong các mối phúc cũng vậy, Nước Thiên Chúa vừa là đất Pa-lét-tin đã được hứa ban cho con cháu Áp-ra-ham, vừa là miền đất của bình an vì có Thiên Chúa hiện diện. Những ai khát khao nên người công chính sẽ nhận được của ăn thể xác lẫn sự thánh thiện của Thiên Chúa, bởi trong Kinh Thánh, công chính cũng có nghĩa là sống đẹp lòng Thiên Chúa. Và Chúa Giê-su nói chúng ta sẽ được thoả lòng theo nghĩa như thế đó. Niềm an ủi của chúng ta trên đời là được biết và nghiệm thấy rằng Thiên Chúa yêu thương chăm sóc chúng ta, và dù thế nào đi chăng nữa, Người cũng đảo ngược tình thế cho người bị áp bức. Cũng có nghĩa là chúng ta biết rằng, ngay cả khi Người có vẻ chẳng nghe thấu lời cầu nguyện của chúng ta, gánh nặng khổ đau của chúng ta vẫn có một ý nghĩa và một mục đích. Cuối cùng, chẳng đáng mừng lắm sao khi được biết rằng, trong đời sau, Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta nhiều hơn là những gì chúng ta có thể mong ước hoặc xứng đáng lãnh nhận !  Cho đến thời Chúa Giê-su giáng thế, loài người sống trong nỗi niềm chờ mong. Chúa Giê-su nói cho chúng ta biết một kỷ nguyên mới đã bắt đầu : Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta, và đối với những ai có tâm hồn trong sạch, Triều Đại Người đã đến, nghĩa là những dục vọng của họ đã được thanh luyện, và họ sẽ được nhìn thấy Người. Phúc thay... bị bách hại. Như Lc, Mt triển khai mối phúc cuối cùng này, vì dù là ở đâu, chúng ta cũng không thể sống Tin Mừng mà không phải chịu bách hại.  


* 5,13
 Sau khi nêu danh những ai được vào Vương Quốc, Chúa Giê-su sắp nhắc nhở họ về sứ mạng của mình. Giáo Hội là muối, là ánh sáng. Đối với người Do-thái, muối trước hết không phải là đồ gia vị mà là chất bảo tồn thực phẩm. Giao ước của Thiên Chúa với các tư tế là giao ước muối bởi vì nó phải tồn tại vĩnh viễn (Ds 18,19). Vậy môn đệ Chúa Giê-su là muối cho đời nếu nhờ họ mà thế gian trung thành giữ giao ước với Thiên Chúa. Họ phải bảo tồn niềm khát vọng đạt tới đức công chính đích thực, và không bao giờ để cho xã hội loài người hài lòng với cuộc sống nửa đời nửa đạo. Ánh sáng cho trần gian : x. “con cái ánh sáng” : Ep 5,8 ; 1 Tx 5,5 ; 1 Pr 2,12.  


* 5,17
 Ở đây bắt đầu đoạn văn trình bày Luật mới. Rất khác với những gì người ta quen tìm thấy trong một tôn giáo : những nghi lễ và tập tục, luật giữ chay, những kinh kệ và việc lành phúc đức mà nhờ đó người ta xứng đáng được cứu rỗi. Chúa Giê-su sẽ không đề cập tới những điều đó vì Kinh Thánh đã nói dài lắm rồi. Vả lại, việc nghiên cứu Kinh Thánh cũng cho thấy rằng các luật lệ, nghi lễ và tập tục luôn có liên hệ với một nền văn hoá nhất định, và phải được thích nghi theo thời gian. Lề Luật (c.18) : từ ngữ này có khi chỉ về toàn bộ tôn giáo của Ít-ra-en. Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ : đây là lối nói chỉ về toàn bộ sách Kinh Thánh. Toàn bộ Lề Luật phải được hoàn thành (c.18). Ở đây, Chúa Giê-su không nói về các điều răn. Người khẳng định rằng đạo của Cựu Ước là một giai đoạn tạm thời nhưng cần thiết trong lịch sử cứu độ. Cũng như các lời ngôn sứ phải được hoàn thành, thì cũng vậy, những lễ nghi và lễ tế của thời Cựu Ước diễn đạt cách nào đó mầu nhiệm tội lỗi và lòng thương xót, cũng phải được hiểu dưới ánh sáng mà Chúa Giê-su đem lại. Vì lẽ đó mà đối với chúng ta, việc giữ các luật lệ trong Kinh Thánh tự nó không phải là một cùng đích. Đó là cách biểu hiện tình yêu đích thực, và là những tay vịn cho khỏi sẩy chân. Nhờ tuân theo luật, chúng ta sẽ ở trong thái độ sẵn sàng tùng phục Chúa Thánh Thần để đi xa hơn luật. Như vậy chúng ta sẽ khám phá một “sự công chính” còn hoàn hảo hơn sự công chính mà các nhà thông luật thời Chúa Giê-su, là các kinh sư và người Pha-ri-sêu, đòi hỏi (5,20). Khi chuẩn bị dạy cho chúng ta hiểu Luật Chúa cách mới mẻ hơn, Chúa Giê-su dặn chúng ta đề phòng cơn cám dỗ đi tìm sự dễ dãi. Có thể nhiều người hiểu sai lời Chúa Giê-su và nói : Hay quá, với Ngài thì đâu có gì bắt buộc, giữ đạo dễ thôi ! Vì vậy, Chúa Giê-su nói rõ : Ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Những ai lấy cớ rằng các điều luật ấy đâu có gì quan trọng để chữa tội làm biếng của mình thì cũng bị cảnh cáo như vậy. Chúa Giê-su dạy tinh thần giữ Luật cho những ai đã trung thành sống theo một luật nội tâm rồi.  


* 5,21
 Ở đây các mâu thuẫn bắt đầu xuất hiện : Anh em đã nghe..., còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết. Công thức này sẽ lặp lại sáu lần. Chúa Giê-su ám chỉ phần đọc Sách Thánh trong ngày sa-bát ở các hội đường, cũng như ngày nay trong các nhà thờ, mỗi tuần có đoạn Sách Thánh phải đọc trong phần phụng vụ Lời Chúa. Người ta nghe đọc đoạn sách bằng tiếng Híp-ri hoặc bản dịch tiếng A-ram, sau đó các trưởng hội đường hoặc khách mời nói lời bình giải. Trước đó Chúa Giê-su đã ra mặt khi lên tiếng trong các buổi nhóm họp như thế, và có thể Người đã nhiều lần tuyên bố : “Quý vị vừa nghe nói, còn tôi, tôi bảo rằng”, vì Người “giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền” (Mt 7,29).  Chúa Giê-su không đặt lại vấn đề các đòi hỏi của Kinh Thánh, cũng không chỉ lo việc bình giải suông ; luật Chúa Ki-tô chính là một lời kêu gọi thanh luyện cái tâm, tức là các ý định và ước muốn của chúng ta. Đó là một sự minh mẫn mới do cái nhìn được hướng về Thiên Chúa. Khi hướng nhìn lên Chúa Cha (đây là cái mới mẻ đáng kể : bắt chước Thiên Chúa Cha : 5,48) thì chúng ta thấy rõ các tiêu chuẩn đạo lý của loài người thật bất toàn biết bao. Chúng ta gọi là tội không những cái thấy được và lên án được mà thôi. Tội của tôi còn là những tư tưởng xấu và những ước muốn mà tôi dung dưỡng trong lòng, sẽ phát sinh những hành vi xấu khi có dịp ra tay. Chúa Giê-su sẽ nhiều lần trở lại các điểm này : 12,34. Trước khi trả hết đồng xu cuối cùng. Việc đền bù cũng thế, không chỉ có nghĩa là hoàn trả những gì tôi đã lấy. Còn phải tự hỏi tại sao tôi lại buông theo đủ thứ ước muốn, và làm thế nào để ý chí của tôi được kiên cường hơn. Chúng ta đôi khi nhìn nhận rằng tình yêu của chúng ta đối với Chúa thật là ít ỏi và chúng ta không bền đỗ lắm trong việc thiện ; đó là hậu quả của nhiều năm sống trong tội lỗi và sai lầm. Chúng ta đã có cách quên bẵng đi hết, nhưng lại không bù đắp những tổn hại nó đã gây ra nơi chúng ta. Nếu khi còn sống chúng ta không được thanh luyện thì sẽ được thanh luyện sau khi chết : Giáo Hội quen gọi đó là “luyện ngục”. Sự biến đổi lúc bấy giờ không thể hiện được nếu Thần Khí không thiêu huỷ sạch hết mọi cội rễ của sự dữ (Mt 3,11).  


* 5,27
 Chớ ngoại tình. Đối với số đông, luật chung thuỷ là một gánh nặng và là chuyện lỗi thời mà người ta chỉ còn biết thán phục nơi kẻ khác. Nhưng Chúa Giê-su thì đặt nó lại trong các định luật của thế giới nội tâm, nơi Thiên Chúa là Đấng Trung Thành đến ngự trị.  Nếu mắt phải của anh (c.29). Nên lưu ý sự tương phản giữa “tay của anh” hoặc “mắt của anh” với “anh”. Chúa Giê-su sẽ nói : Hãy biết khước từ tất cả, và ở đây Người nói rõ : từ khước đến cả sự toàn vẹn của thân thể nữa. Triển nở bản thân, sống thoải mái : những tiêu chuẩn này có giá trị gì ? Ai nấy nghĩ : “Tôi muốn sống cuộc đời của tôi” ; và để bào chữa cho việc phá thai, người ta nói : “Mỗi người phụ nữ làm chủ thân xác mình.” Chúa Giê-su trả lời rằng sự sống thật thuộc một thế giới khác, và mỗi người xây dựng bản ngã đích thực của mình qua việc chấp nhận những mất mát trên đời này. Có phải chỉ cần hy sinh những gì có thể đưa tới tội trọng mà thôi không ? Lời Chúa Giê-su đi xa hơn. Tuy miệng không ngớt than van về cuộc đời, về thế giới, nhưng người ta vẫn tìm mọi cách để sống cho mình và hưởng thụ. Mà nếu chính đó đích thị là tội, là sa ngã ? Chẳng phải là vậy sao, cái tâm trạng sợ phải liều mình, phải hy sinh mạng sống mình để đáp lời kêu gọi của Thiên Chúa ?  Và Chúa Giê-su nói về một hoả ngục bởi không có gì tồi tệ hơn điều này : một cuộc đời không mang lại thành quả nào, và cái tôi đáng lý phải là vĩnh cửu lại bị chết non.  


* 5,31
 Ai rẫy vợ. X. bình giải Mc 10,1 ; Mt 19,2. Ở đây Chúa Giê-su đề cập đến một ví dụ chọn lựa đầy dũng cảm mà người Ki-tô hữu có thể được gọi phải có. Thiên Chúa đôi khi đòi hỏi những hy sinh anh dũng, và những ai không chọn con đường hẹp mà đi thì đánh mất một phần Tin Mừng.  Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp. Ở đây, Mt cho phép có ngoại lệ đối với nhiều người tín hữu trước đây là ngoại giáo. Khi gia nhập Hội Thánh, họ đã huỷ cuộc hôn nhân bất hợp pháp và chia tay với người đang ăn ở với mình (x. 1 Cr 7,12-16). Vì bản gốc Hy-lạp không rõ nghĩa, nên còn có thể dịch là ngoại trừ trường hợp tình phụ. Các bản cổ xưa nhất dạy rằng nếu như vậy thì có thể ly dị nhưng không được tái hôn.  


* 5,33
 Nhiều người kêu tên Chúa bất cứ lúc nào. Nếu chúng ta nhắc đến Người cách cẩu thả hời hợt như thế, ấy là vì chúng ta chưa thấm đậm sự hiện diện của Người. Thật là thiếu tôn kính khi kêu cầu Thiên Chúa làm bảo chứng cho sự chân thành của ta, trong khi ngay cả những dối gian và ô uế nơi bản thân mình, chúng ta hãy còn chưa nhận thức !  Thêm thắt điều gì là do ác quỷ và do ý muốn bào chữa cho chính mình, khẳng định mình có lý trước mặt tha nhân. Con cái Thiên Chúa thì nên phó thác vào tay Thiên Chúa tiếng tăm cũng như thân phận của mình. Sự thật thế nào cũng sẽ được sáng tỏ, và chúng ta chỉ cần làm những chứng nhân trung thực là danh Chúa được vinh quang (cũng x. Mt 23,16 ; Gc 5,12).  


* 5,38
 Mắt đền mắt, răng đền răng. Kinh Thánh có câu này vì trong bối cảnh thời bấy giờ, đó là một châm ngôn hợp lẽ phải (Đnl 19,18-21). Nó giữ cho việc trả thù có chừng có mực, và nhắc nhở các thẩm phán, và ngay cả cộng đồng xã hội, bổn phận bảo vệ các thành viên của mình khỏi tay những kẻ mạnh hay uy hiếp kẻ yếu.  Đừng chống cự người ác. Chúa Giê-su mời gọi chúng ta cũng nhìn địch thủ với cái nhìn mà Chúa có thể nhìn chúng ta : ai là người ác ? Hãy giơ cả má bên trái ra nữa : hãy ra khỏi cái vòng bạo lực. Như trong môn nhu đạo, hãy gây ngỡ ngàng cho đối thủ bằng chính cái chiêu mà nó không ngờ trước : biết đâu nó sẽ nhận ra là nó sai ? Khước từ bạo lực và tư lợi sẽ buộc Thiên Chúa ra tay bênh vực chúng ta : Chúa Giê-su không nghi ngờ điều đó. Và đừng quên rằng Người muốn đưa chúng ta đến chỗ “nhìn thấy Thiên Chúa” đang hoạt động trong đời mình. Nếu có người bắt anh làm một việc gì. Chúa Giê-su đang nói với lớp người nông dân bị quân xâm lược hà hiếp. Bên ngoài họ thường tỏ ra khuất phục và chịu đựng, tuy nhiên, bên trong là uất hận căm thù. Nhưng vào lúc này, họ có khả năng nghe một lời khuyên như thế không ? Chúa Giê-su đã thấy dân Do-thái đang trên đường dẫn đến một bi kịch như thế nào rồi.  


* 5,43
 Hãy yêu đồng loại. Đây là điểm tương khắc cuối cùng giữa luật cũ và luật mới. Cựu Ước nói về lòng nhân ái, và đó là tình liên đới giữa những thành phần trong dân Chúa. Còn Tin Mừng thì đi xa hơn, và không chỉ khuyên nên có một lòng nhân ái quảng đại hơn mà thôi đâu : Tin Mừng đưa vào một thế giới hoàn toàn khác. Trong nội bộ một nhóm người, tình liên đới phát triển theo một bản năng tự nhiên. Nhưng rồi nhóm này chỉ tồn tại và tự khẳng định căn tính của mình bằng cách chống đối với những nhóm kia mà thôi.  Hãy ghét kẻ thù. Trong Kinh Thánh không đâu dạy như thế, nhưng có những chỗ có tư tưởng tương đương (Đnl 7,2). Nói về kẻ thù dân tộc chứ không phải kẻ thù cá nhân, thì khuyên nên dè dặt với chúng, không nên giúp đỡ chúng, thậm chí thà giết sạch chúng đi còn hơn là thông đồng với chúng trong lầm lỗi. Ngày nay, nếu ở nhiều quốc gia, người ta hiểu lòng nhân đạo là không biên giới, thì phải nhìn nhận đó là hoa quả của Tin Mừng : Chúa Giê-su đã mở lòng mở trí cho chúng ta đón nhận tình yêu đại đồng của Chúa Cha, lấy đó làm chuẩn mực để mà yêu thương đồng loại. Nhưng chỉ cần mở một tờ báo ra đọc cũng có thể thấy rằng lòng nhân ái đó đối với tha nhân –dù tha nhân này là loại người nào đi nữa, thuộc một cộng đồng xã hội, quốc gia hay tôn giáo thù nghịch với cộng đồng của riêng chúng ta–, vẫn còn là điều xa lạ đối với số đông, ngay cả trong giới người tín hữu ở các nước Ki-tô giáo. Một khi đã hiểu rằng mỗi một con người đều có chỗ đứng trong thế giới này, rằng Thiên Chúa điều khiển cho mọi sự đều sinh ích cho mọi người, thì chúng ta nhìn thấy được như Chúa thấy và trở nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện. “Hoàn thiện” theo một nghĩa rất ư xác thực, tuy hãy còn nhiều điểm bất toàn. Hãy yêu kẻ thù : Mc 12,31 ; Lc 10,27 ; Rm 13,9 ; Gl 5,14 ; Rm 12,20 ; Lc 23,34 ; Cv 7,60 ; Rm 12,14 ; Ep 5,21.  


* 6,1
 Sau sáu điểm tương khắc (“Còn Thầy, Thầy bảo anh em”), Mt đưa ra ba thí dụ về một bí quyết khác giúp chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa : hành động vì Chúa mà thôi, không cần ai hay biết, và làm sao cho ngay cả chính mình cũng không nhớ tới nữa. Bọn đạo đức giả. Cụm từ này sẽ trở lại ba lần, áp dụng cho những hành vi tốt lành, cho việc cầu nguyện và ăn chay. Thường cũng được dịch là “bọn giả hình”, nhưng từ gốc Hy-lạp ở đây có một nghĩa bao quát hơn, chỉ nói về những kẻ hay phô trương hoặc có tâm trí nông cạn, không thích đi sâu vào vấn đề nào cả.  Cưỡng lại lối sống đạo đức giả có thể là điều khó, tuy nhiên, làm điều lành mà không tự ngắm nghía mình lại còn khó hơn nhiều, nhưng ấy chính là bí quyết đưa chúng ta đi vào các bí mật của Thiên Chúa.  

* 6,5
 Giá trị của cầu nguyện không ở chỗ nói nhiều hoặc đọc kinh cho nhiều. Nó chủ yếu nằm ở thái độ nội tâm tin Chúa và yêu Chúa của chúng ta. Nên hướng lòng trí chúng ta lên cùng Thiên Chúa là Cha, là bạn, một Thiên Chúa yêu thương chúng ta và luôn mong chờ chúng ta đến chia sẻ những giây phút thinh lặng với Người. Cầu nguyện không phải là nói nhiều, cũng không phải áp đặt cho Chúa ý muốn của mình, nhưng là trao phó vận mệnh của mình vào bàn tay yêu thương của Cha.  

* 6,9
 Chúa Giê-su trao ban cho môn đệ kinh Lạy Cha như lời kinh thập toàn xuất phát tự con tim những con cái Thiên Chúa, bởi vì nó nói lên được những điều mà họ phải xin, theo thứ tự những gì mà lòng họ phải mong ước. Thật thì chúng ta có hai bản kinh Lạy Cha, vì Lc để lại một bản ngắn gọn hơn (11,1). Nhiều người nghĩ rằng Mt đưa ra một công thức thoáng rộng hơn, với bố cục hoàn chỉnh hơn, mà ngay từ thế hệ đầu tiên, người Ki-tô hữu buộc phải đọc ; nhưng điều này không chắc là đúng. Trong Mt, có mười hai vế làm thành bảy ý nguyện : hai con số hoàn hảo. Ba ý nguyện (con số của Ba Ngôi) quy về Thiên Chúa, bốn ý nguyện (con số của bốn phương mặt đất) liên quan đến chúng ta.  Người đồng thời với Chúa Giê-su dùng chữ Trời để chỉ Thiên Chúa vì sợ phạm huý. Cũng trong nghĩa đó, Chúa Giê-su nói : Cha chúng con (là) Đấng ngự trên trời để chỉ Thiên Chúa Cha.  Chúng ta cũng thế, chúng ta nói “Ông Trời” để chỉ một thế giới khác, một thực tại khác không thuộc vật chất, không phải ở bên trên cũng không ở bên dưới, nhưng là một cõi nơi đó Thiên Chúa là tất cả, nơi đó Người đem thân mình chia sẻ cho tất cả những ai yêu mến Người. Khi hướng lòng về Đức Chúa Trời, chúng ta không nghĩ là Người ở nơi xa vời, quá cao xa đối với chúng ta. Chúng ta chỉ cố gắng nâng tâm hồn lên tới Người. Chúng ta nhìn nhận rằng mình không xứng đáng thưa chuyện với Người, rằng những lo toan của chúng ta thật ích kỷ và hẹp hòi so với các tâm tưởng uyên thâm và tình yêu vô biên của Người. Quy hướng về Người và gọi Người là Cha đã trở thành tự nhiên đối với chúng ta rồi, nhưng thật ra đó là một đặc ân dành riêng cho những ai được Người thương dạy dỗ. Kinh Thánh nói về Thiên Chúa và cũng nói về danh Thiên Chúa. Toàn thể tạo thành là một biểu hiện của Thiên Chúa. Thiên Chúa ở khắp mọi nơi trong vũ trụ, nhưng vũ trụ không chứa đựng Thiên Chúa, và Người không ở trong một nơi chốn nào nhất định. Vậy chúng ta nói danh Thiên Chúa để chỉ sự hiện diện hoạt động của Người, ánh hào quang rực rỡ bao trùm vạn vật của Người. Như thể để cho thấy có một khoảng cách giữa những gì ta biết về Người với bản thể của Người. Xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển ! Xin cho khắp nơi danh Người được truyền tụng là thánh ! Xin cho ánh huy hoàng và lòng nhân ái của Người được biểu lộ nơi tất cả những ai đã trở nên con cái Người (5,6). Nguyện cho những ai tuân giữ lời Người đón nhận sự hiện diện và những giàu sang phong phú của Người. Theo Ga, Chúa Cha muốn cho danh Người trụ lại nơi chúng ta (Ga 17,11), để chúng ta được từng giây từng phút kết hợp với Người, như Chúa Cha và Chúa Con là một trong Chúa Thánh Thần vậy. Xin cho triều đại Cha mau đến. Chúa Giê-su đến trần gian là triều đại Thiên Chúa đã đến với chúng ta. Thiên Chúa hiển trị ở tất cả những nơi mà con người đã nhận biết Người nhờ lời Chúa Giê-su. Ở đó, Người có thể hành động mà không sợ bị hiểu lầm, vì Người được nhận biết đúng với bản tính của Người. Các tín hữu nhận biết Thiên Chúa trong người Con được Người ban cho, trong sự hạ mình của người Con và trong tình yêu giữa Cha và Con. Nhờ khám phá này mà tình yêu thương và lòng nhân hậu toả lan khắp nơi, và với thời gian, chúng ta sẽ thấy vương triều Thiên Chúa trổ sinh ít nhiều hoa trái. Con cái Thiên Chúa là những con người được hoà giải ; họ trở thành men trong xã hội, và con người toàn diện, với tất cả những dự phóng, lao động và kế hoạch kinh tế chính trị của họ, tiến tới mục đích chung là vạn vật cũng như muôn người đều cùng trở về với Chúa Cha.  Nhờ có chúng ta góp sức, hay mặc dù chúng ta hờ hững, triều đại Thiên Chúa rồi cũng sẽ đến, có hay không có chúng ta, bởi vì vương quyền Thiên Chúa thật sự đã ở giữa chúng ta rồi.  Xin cho ý Cha thể hiện. Trong vườn Ghết-sê-ma-ni, Chúa Giê-su sẽ thốt lên lời này ; lời này lên án nhiều lời cầu xin mà chúng ta thốt lên như để buộc Thiên Chúa ra tay hành động. Có người tưởng đức tin họ lớn mạnh vì họ luôn luôn chạy đến Thiên Chúa để giải quyết những vấn đề của họ. Thật ra con cái Thiên Chúa nâng tâm hồn lên tới Người là để cho ý muốn của Người trở thành chính ý muốn của họ. Dưới đất cũng như trên trời. Câu xác định này áp dụng cho cả ba lời cầu đi trước. Nó nhắc cho chúng ta nhớ rằng tất cả những gì đã được tạo thành và thuộc về thời gian đều lệ thuộc một thế giới khác, một thế giới không phải được tạo thành, không có thời khắc, và đó là mầu nhiệm Thiên Chúa chứ không là gì khác. Nơi đây, Chúa Cha là nguồn mạch thần tính, vui hưởng sự tuyệt hảo vô hạn của Người trong mối tình Ba Ngôi tặng hiến cho nhau, và đối diện với Người là các thánh : các ngài được như thế nào sau khi phục sinh thì Thiên Chúa nhìn thấy các ngài y như vậy. Thiên Chúa nhìn thấy vũ trụ được thống nhất trong Chúa Ki-tô, cũng như thấy ý muốn đã thành sự của Người và được mọi người tôn vinh. Phần chúng ta là những kẻ đang sống trong thời gian, mục kích một cuộc sinh nở đớn đau, thấy sự ác như đang chiến thắng, chúng ta cầu nguyện sao cho mọi sự thuận theo kế hoạch của Thiên Chúa, mà kế hoạch này cuối cùng sẽ được thực hiện. Chúng ta xin Cha thứ lương thực mà Người đã hứa ban cho những ai chú tâm đến Lời Người (Đnl 8,3). Con người hiện đại nghĩ rằng tất cả những tiện nghi vật chất của họ là do cố gắng của chính mình. Nhưng Kinh Thánh dạy rằng tất cả vừa tuỳ thuộc Thiên Chúa vừa tuỳ thuộc chính chúng ta. Một mình chúng ta đơn phương sẽ có thể làm một vài phép lạ kinh tế trong một thời gian, nhưng chúng ta cũng sẽ phung phí các của cải đã được tích trữ. Còn ai trông cậy vào Thiên Chúa để có, không phải của ăn cho mình mà của ăn cho chúng con, thì người ấy sẽ cố hết sức mình tìm cho có công ăn việc làm, thực hiện một công việc hữu ích và phát huy công bằng nơi mình làm việc.  Phải nói lương thực cần dùng, hay hằng ngày, hay đầy đủ ? Bởi vì bản văn gốc sử dụng một từ khó hiểu mang nhiều nghĩa. Phần đông người ta hiểu rằng ngoài những gì thân thể họ đòi hỏi, con cái Chúa cảm thấy cần có biết bao nhiêu thứ khác nữa, rằng ở đây cũng như trong phép lạ hoá bánh ra nhiều, bản văn đã ngầm nói đến Thánh Thể. Có những bản dịch dùng chữ nợ ở 6,12, nhưng 6,14 cho thấy có chữ lỗi. Đối với Chúa Giê-su, hẳn nợ và lỗi là như nhau. Khi tha thứ cho ai xin lỗi chúng ta, chúng ta nào có tặng họ món quà gì, đâu có công trạng gì : chính chúng ta được nhẹ gánh một sự hiềm thù đã từng đè nặng trên mình. Bám víu quyền lợi của mình là cắm neo ở đời này. Thiên Chúa thì muốn tha thứ cho chúng ta và đưa chúng ta đến gần Người ; vậy Người làm thế nào được nếu chúng ta khư khư với những cái thuộc thế gian này ? Chúa Giê-su đang nói với những người nghèo, thường mắc những món nợ nặng đến không thanh toán nổi, những người nghèo buộc phải sống với những người láng giềng mà họ đã không chọn, là điều gây thêm những dịp xích mích nhau. Ngày nay, nhiều người sống độc lập, và đối với họ, lý tưởng là đừng có mang ơn ai hết. Do tự mãn như thế mà họ khó có thể hiểu được lòng thương xót của Thiên Chúa đối với kẻ nghèo là tất cả chúng ta, trước mặt Người. Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ. Đó là lời của một người ý thức được sự yếu đuối của mình. Và chúng ta sẽ còn cẩn trọng hơn nữa nếu biết rằng tuy bản dịch dùng từ sự dữ, nhưng kẻ thù của chúng ta thật ra là Ác Thần, là Tên Độc Dữ. Tên này mạnh hơn chúng ta, luôn rình chờ mê hoặc chúng ta, làm tê liệt đức tin và đánh bại chúng ta, chỉ cần chúng ta thờ ơ với những phương tiện mà Chúa Giê-su ban cho để giúp chúng ta sống kiên trì trong đức tin, trong lòng Hội Thánh Người.  

* 6,16
 Ở đây, Chúa Giê-su không bào chữa cũng không lên án việc ăn chay (9,15 ; 17,21). Chính Chúa đã ăn chay (4,2). Chúa chỉ khẳng định rằng việc ăn chay chẳng có giá trị nào nếu chúng ta lấy đó để được thiên hạ tán dương chứ không phải để được Thiên Chúa tán thưởng. Phải đọc đoạn này trong mạch ý của 6,1 và 6,5 : Chúa dạy làm việc thiện mà không phô trương.  Tôn giáo nào cũng dạy thực hành trai tịnh : đây là một cách thức để xin Thiên Chúa đoái thương nhìn đến mình, nhất là khi có những tai hoạ ập xuống trên đầu (Ge 2,12) ; để cho những ai cảm thấy mình có tội có thể kêu đến lòng thương xót của Thiên Chúa (Gn 3,8). Đây cũng là một phương thức luyện tập chế ngự bản thân và huy động nội lực, chuẩn bị chúng ta sẵn sàng đón nhận ơn Chúa.  Kinh Thánh giới hạn vị thế của việc ăn chay ; các ngôn sứ tuyên bố nó không có ích gì nếu không đi đôi với một cách đối xử công bằng hơn với người thân cận (Is 58 ; Dcr 7,5). Một số người dùng việc ăn chay như một cách gây áp lực trong xã hội, như một khí cụ trên chính trường, hầu mọi người lưu ý đến những yêu sách của họ. Rất tốt, nhưng đó không thuộc loại ăn chay mà Chúa Giê-su nói đến, tức là giữ chay để kêu lên tới Chúa chứ không phải công luận (Mt 6,18). Giữ chay như thế đòi hỏi đương sự phải thật lòng hoán cải và sám hối tội lỗi mà chính mình đã phạm.  

* 6,19
 Đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất. Trong nhiều thế kỷ, phần đông người ta không có dự trữ cá nhân : khi gặp khó khăn, họ được gia đình hoặc bộ lạc gánh vác. Ngày nay mỗi người phải lo tự lực tự cường ; có thể như vậy là tốt hơn, nhưng làm sao thoát được nỗi ám ảnh về tương lai mà mình phải bảo đảm ? Một lần nữa, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta tin tưởng vào sự quan phòng của Chúa Cha : nếu chúng ta gánh vác công việc của Chúa thì Chúa sẽ gánh vác công việc của chúng ta. Lòng anh cũng ở đó. Theo văn hoá Do-thái cũng như Á Đông, cái tâm, cái lòng là khu vực của những phán đoán và quyết định. Không phải tôi là chủ sở hữu các kho tàng, mà các kho tàng lại là chủ sở hữu tôi và dần dần áp đặt cho tôi nếp sống này hay nếp sống kia. Lòng anh ở đó. Chính niềm xác tín này thôi thúc một số người tìm cách “sống nghèo khó theo Tin Mừng”. Họ chủ tâm siêu thoát tối đa đối với mọi sự để nhắm tới hành động và yêu thương. Chúa Giê-su kêu mời chúng ta hành động vô vị lợi ; đồng thời Người muốn chúng ta cảnh giác không để tình cảm trói buộc mình, không để lòng ham muốn vật chất hoặc ý thức hệ nào làm cho mình vướng víu : ra tay làm việc, nhưng không bao giờ bám víu thành quả lao động của mình.  


* 6,22
 Con mắt đây là lương tâm. Nhưng đàng khác, người có con mắt sáng là người hào hiệp, và kẻ có con mắt tối là kẻ hẹp hòi. Chúa Giê-su nhấn mạnh điều Người vừa nói : lương tâm lệch lạc sẽ làm cho chúng ta lạc lối và thu mình lại chỉ còn biết có mình.  


* 6,24
 Không ai có thể làm tôi hai chủ. Mở đầu câu như thế giúp chúng ta hiểu ý Chúa Giê-su muốn nói gì : Người muốn chúng ta tháo cởi những mối lo toan để phụng sự Thiên Chúa.  Kinh Thánh đã từng dạy phải biết chọn lựa giữa Thiên Chúa và các tà thần. Nay Chúa Giê-su tuyên bố rằng tiền tài là một tà thần, bởi vì nó hứa hẹn một tương lai hạnh phúc và an toàn nhưng lại làm cho ta đánh mất phần tài sản thực thụ của mình là giây phút hiện tại. Xin nói cho rõ ý : tiền bạc và các trương mục ngân hàng là những phương tiện cần thiết trong xã hội hiện đại ; không ai lên án điều đó cả, và cũng như mọi thứ phương tiện khác, nó tốt xấu là tuỳ cách nó được sử dụng. Tuy nhiên tiền là phương tiện để có tất cả những cái khác, và hơn nữa, đó là cái người ta để dành một bên để bảo đảm tương lai. Làm tôi tiền của là cậy vào nó để bảo tồn mạng sống trong hiện tại (Lc 12,15) và bảo đảm cho tương lai, trong khi tất cả, từng giây từng phút, là trực tiếp tuỳ thuộc Thiên Chúa. Khi chúng ta chỉ nghĩ đến bảo đảm cho tương lai, như những tay keo kiệt khư khư giữ lấy các trương mục ngân hàng, thì chúng ta đâu có thể sống thật sự và sống tự do nữa. Chúng ta hờ hững trước sự tăng trưởng của chính mình, hờ hững đối với gia đình, và cúi rạp trước mặt kẻ quyền thế. Lo lắng làm gì ? Tất cả công trình của Thiên Chúa là giải thoát, nhưng chúng ta có đủ đức tin để thoát khỏi ngần ấy lo lắng không ? Tại sao so sánh với hoa cỏ và chim trời ? Nếu Người đã ban cho chúng ta hai bàn tay và khối óc, ấy là để chúng ta sử dụng. Nhưng Chúa Giê-su cho chúng ta thấy nếu những thụ tạo nhỏ bé như thế mà Thiên Chúa còn săn sóc và làm cho đẹp, thì phương chi mỗi người chúng ta còn được Người quan tâm biết bao, và Người ao ước cho chúng ta được một cuộc sống tươi đẹp, cao quý và hoàn hảo là ngần nào.  Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người. Đây là những điều rất cụ thể : tìm Nước Thiên Chúa, là sống một cuộc đời trong sáng cho thấy có Chúa hiện diện ; tìm đức công chính của Thiên Chúa, là chỉnh lý toàn bộ con người và hành động của mình dưới con mắt của Thiên Chúa. Đối với một người trẻ, một đôi vợ chồng, đây là một cuộc đánh liều : suy tính về tương lai, gia đình và hoạt động tông đồ theo các tiêu chuẩn của Tin Mừng chứ không phải dưới sức ép của những đua đòi trần thế. Lấy thời giờ của mình phục vụ Tin Mừng ; yêu thương con cái, hay học sinh của mình, như Chúa yêu thương chúng, chứ không phải yêu thương những đứa giỏi giang nhất, làm việc có năng suất nhất.  


* 7,1
 Có lẽ Chúa Giê-su thốt lên những lời này trong cùng một mạch ý với 5,43. Những người tự cho mình là người lương thiện, hay những người đạo mới, thường hay xét đoán và phê phán những ai thuộc phía bên kia. Đây là một dạng tự cao tự đại mà các tác giả sách thiêng liêng gọi là cái “tật xấu của lính mới”. Nó ăn sâu trong bản tính con người đến nỗi nhiều “người công chính” trong Kinh Thánh tỏ ra bất bình với những “người tội lỗi” không giữ các điều răn của Chúa. Ngược lại, điều răn mới của Chúa thì dạy chúng ta đừng tự coi mình hơn người, hoặc tự tôn mình làm thẩm phán xét xử những người bước đi –hay được Chúa dẫn đi– theo một đường lối không giống chúng ta. Đừng xét đoán. Chúng ta có bổn phận xét đoán theo nghĩa phân định cái gì xung quanh ta là tốt, cái gì là xấu. “Nói thật mất lòng”, nhưng chúng ta vẫn phải có can đảm lên tiếng khi có ai làm điều sai trái (x. Lv 19,17 ; Gl 6,1). Tuy nhiên ở đây, xét đoán có nghĩa là lên án. Chúa Giê-su mặc khải cho thấy sự thống nhất sâu xa liên kết tất cả mọi người và vạn vật trong Thiên Chúa : “máu chảy ruột mềm”. Khi chúng ta ngăn chặn lòng thương xót là chúng ta rời xa thế giới của Thiên Chúa, và chính chúng ta sẽ không còn biết thương xót là gì nữa.  Đừng xét đoán : x. Rm 2,1 ; 14,4 ; 1 Cr 5,12 ; Gc 4,11.  


* 7,6
 Ngọc trai, chớ liệng cho heo. Đây là lời Chúa cảnh cáo các môn đệ đang sống trong một thế giới đối nghịch. Không nên nói hết mọi sự với hết mọi người. Thiên Chúa đã ban cho chúng ta những ân huệ tuyệt vời, nhưng không nên đem chia sẻ một cách thiếu suy nghĩ và không xét đến những quá trình cần phải có, tưởng rằng cứ gặp ai cũng nói thì người ta sẽ theo đạo.  

* 7,7
 X. phần bình giải Lc 11,9 ; Mc 11,24 ; Ga 14,13 ; 15,7 ; Gc 1,5.  


* 7,13
 Hãy qua cửa hẹp mà vào. Có lẽ vừa mới có người hỏi Chúa : Ai có thể được cứu ? (Mt 19,25). Chúa không bao giờ nói những người được hưởng cuộc sống muôn đời sẽ đông hay không. Nhưng Người hay lặp đi lặp lại rằng sẽ có rất ít người được chọn trong số đông được gọi. Có nghĩa là mặc dù có nhiều người được đặc ân gặp thấy Chúa, nhưng rất ít người cảm nghiệm được các kho tàng của Tin Mừng và sinh hoa trái. Những người được chọn là những người kiên trì và tìm đến tự do đích thực. Nhiều kẻ chọn đi con đường đưa đến diệt vong. Họ không đi con đường trong đó Chúa Giê-su sẽ là tất cả cho họ. Họ phung phí các ân huệ Thiên Chúa đã trao ban cho họ và coi như trở thành những người vô ích cho Nước Trời. Nhưng dù vậy họ vẫn được hưởng lòng xót thương của Thiên Chúa.  

* 7,15
 Có thể ở đây, tác giả Mt trích dẫn lời Chúa Giê-su để nói với một số người trong Giáo Hội sơ khai tự cho mình được đặc sủng làm ngôn sứ ; có thể họ đã thật sự nhận ơn Chúa Thánh Thần, nhưng đã biến chất với thời gian. Hiểu rộng hơn, ở đây Lời Chúa nhằm tất cả những ai khuyến khích chia rẽ, gian dối và bạo lực, dù tưởng là để phục vụ một chính nghĩa.  Các ngôn sứ khoác áo da cừu, nhưng một con chó sói cũng có thể núp ở bên dưới. Thế gian luôn đầy những ngôn sứ giả, thường là những người tiên báo một thứ hạnh phúc dễ dãi, và nếu Lời Chúa lên án họ thì họ cho đó là do hiểu sai. Tuy vậy nên tự hỏi tại sao thuyết tự do yêu quý của chúng ta gieo chết chóc nhiều như thế, và bóp nghẹt khả năng tin tưởng và hy vọng nơi nhiều người như vậy.  Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái ? (c.16). Chúa Giê-su mời chúng ta xem xét sự việc để rút ra kết luận. Nhưng vì sáng suốt mà nhìn xem thực tại là điều khó, nên chúng ta thích bàn cãi trên tư tưởng hơn. Chúa Giê-su được rèn luyện trong nghề tay chân, nên không mấy tin tưởng những lời dài dòng và lý thuyết.  


* 7,21
 Ngày phán xét, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng. Có thể tác giả Mt trích dẫn những lời này nhắm tới những người tự cho mình được đặc sủng làm ngôn sứ, gây hoang mang trong các cộng đoàn của ông và tự miễn không tuân giữ các luật lệ chung như mọi người. Nếu chúng ta giảng dạy và làm phép lạ thì đó là những thừa tác vụ và ân huệ xây dựng cộng đoàn chứ không có nghĩa là chúng ta đã sống trong ơn Chúa. Đức tin chân chính được biểu lộ bằng đức ái và lòng trung tín (Gl 5,6), thúc đẩy chúng ta tuân giữ luật Chúa (Gc 2,8).  Ai nghe những lời Thầy nói đây (c.24). Ở đây, Chúa Giê-su đưa ra một định nghĩa của chữ “A-men” mà chúng ta thường dùng để kết thúc các lời cầu nguyện. Tiếng Híp-ri “a-man” có nghĩa là “xác lập một điều, đặt cơ sở cho một công trình”. Khi thưa “A-men”, chúng ta công bố rằng lời cầu nguyện vừa thốt lên, đoạn sách vừa nghe đọc, là nền tảng trên đó chúng ta muốn xây dựng cuộc đời chúng ta.  Chúa Giê-su nói như thế về những người đã nghe lời Người. Nhưng nếu họ không xây dựng cuộc đời trên những nền tảng vững bền như là suy niệm Sách Thánh, sống quảng đại, chiến đấu chống lại cái xấu, chia sẻ trong cộng đoàn, nếu họ không đặt “a-men” trên lời Người, thì mọi sự sẽ sụp đổ.  Đoạn này kết thúc diễn từ thứ nhất của Tin Mừng Mt. Một diễn từ khác sẽ mở đầu ở ch. 10.  



* 8,1
 Trong phần mới này của sách Tin Mừng (8,1 – 9,38), tác giả Mt thu thập một số phép lạ. Đối với ông, các phép lạ không phải là những chuyện phi thường, mà nó mặc khải cho chúng ta nhận ra nét mặt người môn đệ chân chính của Chúa Giê-su.  Trước hết là người mắc bệnh phong được chữa lành. Đây là một cử chỉ can đảm của Chúa, và là một cử chỉ vi phạm trắng trợn “luật thanh sạch”. X. phần bình giải Mc 1,40. Tiếp đến (8,5) là đức tin viên đại đội trưởng Rô-ma. Chúa Giê-su nói về những người Do-thái sắp bị loại trừ khỏi Nước Thiên Chúa. Điều này cũng có thể áp dụng cho những người kế thừa Nước Thiên Chúa đến sau, là người Ki-tô hữu thời nay. Con cái Nước Trời (c.12). Đây là một lối nói trong tiếng Híp-ri chỉ về toàn thể dân Do-thái là những người có tư cách thừa hưởng Nước Trời. Thời ấy, ở mọi nơi, tôn giáo là thành phần của văn hoá, và không có chuyện cải giáo cá nhân : con cái gia đình Do-thái sẽ theo đạo Do-thái. Các bậc thầy giảng dạy đạo lý không coi nhẹ đức tin, nhưng trong thực tế, họ nhấn mạnh việc tôn trọng các nghi thức và luật lệ. Chúa Giê-su thì không coi nhẹ những điều này, nhưng Người tìm kiếm lòng tin và tỏ ra khâm phục khi gặp thấy nó. Những kẻ kế thừa mới của Nước Trời là chúng ta thì cũng vậy. Không phải những tập quán hay những kiến thức tôn giáo của chúng ta cho phép chúng ta được vào Nước Thiên Chúa đâu, mà còn phải khám phá sự hiện diện đầy yêu thương của Thiên Chúa qua biết bao lời nói và cử chỉ của Chúa Giê-su, là những cái có đủ lý do để gây khó chịu cho chúng ta. Họ sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm. Khoan nói đến hoả ngục, vì Chúa Giê-su dùng ngôn ngữ các ngôn sứ. Đây có nghĩa là nếu chỉ giữ những cái bên ngoài đã học được chứ không phải giữ lòng tin vào Thiên Chúa, ấy là đi lạc vào đủ thứ chỗ, trừ nơi có sự sống.   


* 9,7
 X. phần bình giải Mc 2,1 ; Lc 5,17. (Họ) tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế (c.8). Công thức này hơi vụng về. Dân chúng ngạc nhiên thấy quyền năng cứu độ của Thiên Chúa vừa được tỏ bày giữa loài người, và nhờ một con người là Chúa Giê-su.  Nhưng tác giả Mt không muốn tách rời Hội Thánh với Chúa Ki-tô : cộng đoàn Ki-tô hữu nào cũng nhận được ân huệ Thiên Chúa để chữa lành và hoà giải. Vẫn biết rằng các thừa tác viên Hội Thánh có quyền tha tội, nhưng ơn thánh Chúa còn đi qua nhiều ngã khác nữa (1 Cr 5,3-5 ; 2 Cr 2,5-11). Khi chúng ta khiêm tốn đón nhận việc sửa lỗi nhau trong tình huynh đệ, khi vợ chồng tha thứ cho nhau, ấy là Chúa Ki-tô tha thứ, và điều gì được tha dưới đất cũng được tha trên trời (Mt 18,18). * 9,9 Chàng rể (c.15). Dân Thiên Chúa trước đây là người vợ, và Đức Chúa đã gắn bó với dân Người như chồng với vợ. Vậy rõ ràng là Chúa Giê-su ý thức Người là Thiên Chúa Ngôi Con đến giữa nhân loại. Cũng xem Mc 2,13.  


* 9,20
 Một người đàn bà tiến đến sờ vào tua áo của Người. Chúa Giê-su cũng mặc áo có kết tua như mọi người Do-thái ngoan đạo (Ds 15,38 ; Mt 23,5).  


* 9,27
 Hai người mù đi theo kêu lên rằng. Theo như thế nào, nếu họ mù ? Bằng những bước đi khập khễnh và nhờ người khác dẫn đường. Khi chúng ta phạm tội, cũng hãy kêu lên Chúa và tìm cách đi theo Người như vậy.  


* 9,36
 Đức Giê-su chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. X. Ds 27,17 ; Ed 34,5 ; Dcr 10,2 ; Ga 4,35 ; Mc 6,34 ; Lc 10,2. Trong đoạn Tin Mừng tóm lược sứ vụ của Chúa Giê-su tại Ga-li-lê này, tác giả Mt muốn cho thấy Nước Thiên Chúa đã đến rồi : một đòn chí tử đã giáng xuống trên sự ác. Nơi Chúa Giê-su, chính bản thân Thiên Chúa đã đến chữa lành nhân loại. Nhưng vì đây là một công trình lâu dài và khó khăn, nên cần phải có những dấu chỉ rành rành giúp chúng ta tin được có điều gì đó đang xảy ra ; vậy Chúa Giê-su phải chữa lành kẻ đau ốm tật nguyền. Ngày nay cũng vậy, các cộng đoàn Ki-tô hữu phải đưa ra những dấu chỉ về ơn cứu độ mà họ rao truyền. Ơn chữa bệnh chưa đủ, vì quỷ dữ cũng có chỗ đứng của nó trong tội ác của xã hội. Chúa Giê-su yêu cầu mỗi người chúng ta đem các năng khiếu của mình ra mà phục vụ nhân loại. Nhưng Người cũng cần những thợ gặt cho Nước Trời, tức là những người truyền đạt lời mời gọi của Thiên Chúa và quy tụ những cộng đoàn dân thánh. Chúa nói “hãy xin”, hãy cầu nguyện, biết đâu bạn sẽ hiểu ra rằng Thiên Chúa gọi bạn. Chắc hẳn mọi cộng đoàn Ki-tô hữu đều cầu xin với Chúa, và Thánh Thần làm cho xuất hiện trong lòng cộng đoàn những đặc sủng, những thừa tác viên và mục tử cần thiết để đáp ứng các nhu cầu. Nhưng ở đây, Chúa Giê-su kêu gọi chúng ta cầu xin Thiên Chúa sai nhiều tay thợ biết xả thân cho công cuộc truyền giáo : họ luôn là quá ít, nhất là để loan báo Tin Mừng và xây dựng Hội Thánh giữa tầng lớp người nghèo.   


* 10,1
 Cho đến lúc này, Chúa Giê-su giảng dạy trong các hội đường chung quanh Ca-phác-na-um. Giờ đây người ta đã biết tiếng Người, Người đã có môn đệ và bắt đầu thu hút dân chúng. Chính đây là lúc Người lập “Nhóm Mười Hai”. Người cần có các ông để tổ chức các buổi gặp mặt với Người, truyền đạt giáo lý của Người và nhân lên những dấu lạ mà Người thực hiện giữa đám người bệnh hoạn yếu đau. Chúa đã nghĩ đến Hội Thánh của Người và muốn cho Hội Thánh có người lãnh đạo : đó sẽ là nhóm các Tông Đồ. Các ông sẽ là chứng nhân của Chúa, và để chuẩn bị các ông, Người dạy cho họ có một nếp sống, và sống cộng đoàn, làm kiểu mẫu sau này cho cộng đoàn Giáo Hội.  Sách Mc thì viết : Người gọi đến với Người những kẻ Người muốn (Mc 3,13). Đến phiên các ông, các ông sẽ gọi những kẻ khác nữa. Trong Giáo Hội, ai cũng có thể “làm việc tông đồ”, nhưng không ai tự làm cho mình trở thành “người tông đồ”, nghĩa là chứng nhân chính thức của Chúa Ki-tô : phải được gọi để lãnh nhận trọng trách này. Về Nhóm Mười Hai, x. phần bình giải Mc 3,13.  


* 10,5
 Ngay từ 9,35, Mt đã chuẩn bị “diễn từ” thứ ba này của Chúa Giê-su (x. Dẫn Nhập). Chúa Giê-su đã khởi đầu sứ vụ, Người huấn luyện và sai phái các vị thừa sai. Tông đồ (có lẽ nên nói là “sứ đồ”) có nghĩa là được sai đi ; và nhà truyền giáo cũng là những người thừa sai, nghĩa là thừa hành lệnh sai đi.  Chúa Cha đã sai Con Một Người đến thế gian, và tới phiên Người Con cũng sai các Tông Đồ của mình. Chúa Cha sai những sứ giả mang Lời Người đi, nhưng cũng sai Thần Khí của Người là Thánh Thần, đến cảm hoá tâm hồn và trí tuệ của những ai nghe Lời Người. Nhờ Thánh Thần, họ sẽ nhận ra lời Thiên Chúa trong những lời nói vụng về của những sứ giả không có học thức cao cho lắm ấy. Thánh Thần sẽ ban những dấu lạ : những vụ chữa bệnh và những ơn lạ lùng củng cố chứng từ của các sứ giả.  Các vị kế thừa các Tông Đồ cũng sẽ là sứ giả truyền đạo như các ông. Các vị ấy trước hết không phải là những người điều hành một Giáo Hội cơ cấu, nhưng là những người sống như người nghèo giữa những người nghèo, và nhờ đó sẽ gầy dựng nên những Giáo Hội mới trẻ (x. 1 Cr 3,10 ; 12,28). Vậy ch. 10 này nói về sứ mạng truyền giáo, là ưu tư hàng đầu của cộng đoàn Ki-tô hữu. Trong phần thứ nhất (cc. 5-16), Chúa Giê-su nói với các nhà truyền giáo tiên khởi được sai đến Ga-li-lê. Trong phần thứ hai (cc. 17-42), tác giả Mt thu gom những lời mà Chúa Giê-su đã nói trong những trường hợp rất khác nhau, nhưng cải biên lại cho phù hợp với độc giả của mình, vì lúc ấy Giáo Hội đã bắt đầu bị ngược đãi trong đế quốc Rô-ma. X. phần bình giải Mc 6,7 và Lc 10,1. Anh em đừng đi về phía các dân ngoại (c.5). Chúa Giê-su làm theo kế hoạch cứu độ của Chúa Cha như đã được tiên báo trong Kinh Thánh. Đấng Cứu Thế phải quy tụ trước hết các chiên lạc nhà Ít-ra-en, và sau đó dẫn đưa tất cả các dân ngoại đến hưởng ơn cứu độ : Is 49,6 ; 60,1-10 ; Dcr 14,16 ; Mt 15,24. Ai đón tiếp anh em (c.40). Không đón tiếp các sứ giả có nghĩa là không màng đến lời kêu gọi của Chúa Cha và cũng là đánh mất cơ may lớn nhất đời mình vậy.  CÁC CHỨNG NHÂN Ở đây là những chỉ thị mà Chúa Giê-su đã đưa ra cho các chứng nhân của Người, về cách đương đầu với những cuộc bách hại. Suốt mấy tuần liền, Chúa Giê-su đã gần như sống lén lút, và các vị truyền giáo đầu tiên của Người cũng đã nếm mùi những đe doạ tương tự. Khi thuật lại các lời nói này, Mt có lẽ đã cải biên phần nào cho phù hợp với hoàn cảnh của người Ki-tô hữu đương thời với ông, chứ không phải bịa đặt ra. Chúng ta nói chứng nhân, mà từ gốc Hy-lạp cũng có thể hiểu là tử đạo. Một số vị đã được tôn vinh rất sớm, đa số thì không ai biết đến danh tánh. Các ngài thường hay bị vu khống (5,11 ; Lc 21,17), thế là bị cô lập hoá, ngay cả đối với cộng đoàn Ki-tô hữu, để rồi bị loại trừ.  Trong một vài trường hợp, có những cộng đoàn bị tàn sát toàn bộ, như vào thời đế quốc Rô-ma, hoặc gần với chúng ta hơn, cộng đoàn người Ác-mê-ni. Và điều này hiện còn tiếp tục tại nhiều nước tuy báo chí không nói đến. Trong những trường hợp khác, giữa lúc tình hình phức tạp, các chứng nhân giữ một lập trường nguy hiểm đến tính mạng, và họ đã phải chết. Khi ông Tê-pha-nô bị hạ sát (Cv 7), các Tông Đồ không bị truy nã, và nhiều kẻ có thể tưởng rằng ông ấy là một người cuồng tín. Vào thời các thiếu nữ thành phố Rô-ma bị bách hại vì quyết giữ trọn trinh tiết, nhiều người đã nói : Sao các cô lại coi khinh bổn phận gia đình như thế ? Khi người Ki-tô hữu Anh Quốc, Pháp hoặc Trung Quốc từ chối lập những Giáo Hội quốc gia tự trị, tách rời khỏi Hội Thánh Công Giáo Rô-ma, chẳng phải họ kháng cự lại luật Nhà Nước của họ đó sao ? Có lẽ phải thừa nhận rằng làm chứng nhân tử đạo là một ơn, một ơn mà không phải ai cũng được ban cho. Nhiều người sẵn sàng hy sinh tính mạng mình cho Chúa Ki-tô, nhưng khi đứng trước những tình hình bạo lực và tham nhũng, họ lại không thấy cần phải làm mạnh, nên đã nhượng bộ để tránh cái tệ hơn. Người khác thì trái lại, hiểu rằng Thiên Chúa đòi hỏi họ phải làm chứng (c.18) cho Tin Mừng mà họ đã tin tưởng, đang đối chọi với điều người ta áp đặt : làm như vậy, họ đưa lưng sẵn sàng nhận lãnh các biện pháp đàn áp mà xã hội thường dùng để tự vệ.  Chúa Giê-su dạy không nên đi tìm cái chết (c.23), nhưng đàng khác, Người khẳng định rằng những vụ ngược đãi và phiên toà xử tội các chứng nhân của Người sẽ đẩy mạnh việc loan báo Tin Mừng (c.18), và thánh Phao-lô cũng xác tín như thế (Cv 27,24 ; Ep 6,19). Sách Kh còn đi xa hơn nữa, khẳng định rằng việc sát hại các chứng nhân làm tiến triển lịch sử thánh. Em sẽ nộp anh cho người ta giết. Anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Đó là lẽ thường trong một bầu khí khủng bố. Nhưng dù không bi đát đến như vậy, các chứng nhân Chúa Ki-tô cũng có thể bị mọi người hoặc hầu hết mọi người trong Giáo Hội hiểu lầm, trong khi kẻ bách hại họ có thể được khen ngợi (Lc 6,16). Với thời gian, Thánh Thần sẽ làm sáng tỏ chân lý, nhưng phần đông những người thấp cổ bé miệng, thường là những người chịu nhiều đau khổ và sáng giá nhất, lại cứ bị lãng quên, cho tới ngày Chúa Giê-su đích thân tuyên bố nhận họ trước mặt Chúa Cha.  Thật ra, Chúa Giê-su không chỉ nói về những người bị sát hại. Gần chúng ta hơn và đông đảo hơn, còn là những người đã phải vượt lên trên nỗi sợ hãi (cc. 26.28.31) để làm chứng cho Chúa ngoài đường phố, nơi trường học và nơi giải trí trên cõi đời xấu xa và sa đoạ này (Gl 1,4 ; Pl 2,15).  


* 10,19
 Anh em đừng lo. Làm chứng cho Chúa không phải để mưu ích cho chính mình, và khi bị ngược đãi và tống ngục thì sẽ thấy mình được đồng hoá với Chúa sâu đậm hơn. Lúc ấy không nên nghi ngờ có Thánh Thần trợ giúp. Lo lắng tìm cách đối phó và tự vệ chỉ cản trở sự tự do của Thánh Thần và mất bình an trong lòng thôi.  

* 10,23
 Anh em chưa đi hết các thành của Ít-ra-en. Có thể câu này nằm đúng chỗ hơn nếu đặt vào phần đầu bài giảng, khi Chúa sai các Tông Đồ ra đi. Nhưng Mt đặt ở đây, cho nó một ý nghĩa khác : dù có bị trục xuất từ khắp nơi, các vị truyền giáo tương lai vẫn không thiếu việc làm, cho tới khi Chúa Ki-tô lại đến.  

* 10,28
 Chúng ta là những kẻ hèn nhát, và Chúa biết rõ như vậy. Người đã nói : “Anh em đừng sợ” rồi, khi dạy chúng ta không nên cậy vào tiền bạc. Giờ đây, nói về nỗi lo sợ bị đàn áp, Người thêm : “Nếu không thoát nổi sợ hãi thì hãy nhìn lại xem đâu là đe doạ lớn nhất : từ Thiên Chúa hay từ người phàm ?” Đây là chỗ duy nhất Chúa Giê-su đề cập đến “sợ Thiên Chúa”. Theo Cựu Ước nói chung, kính sợ Thiên Chúa có nghĩa là tôn kính, tôn thờ. Mà tôn thờ khác xa sợ hãi. Thiên Chúa đâu phải doạ “tống” chúng ta xuống hoả ngục, mà chỉ nhắc nhở chúng ta rằng mất Thiên Chúa là coi như mất mạng rồi.  

* 10,32
 Phàm ai tuyên bố nhận Thầy. Sau khi nhấn mạnh quyền năng tối thượng của Cha Người, Chúa Giê-su khẳng định Người cũng đồng quyền với Cha như vậy : chính Người sẽ định đoạt số phận đời đời của chúng ta. Không phải Chúa chỉ nói về việc nhận Người, nghĩa là đừng chối đức tin của mình trước mặt thiên hạ mà thôi, chúng ta còn phải tuân theo lời Người trong đời sống thường nhật. Chúng ta không nên hổ thẹn mà hành động và ăn nói với tư cách là người có đức tin ; khi cần còn phải tuyên bố những xác tín của chúng ta cách công khai nữa.  

* 10,34
 Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất. Người có đức tin được bình an do bởi họ biết chắc chắn Thiên Chúa yêu thương họ ; đó là điều đã được các thiên thần nói lên tại Bê-lem : Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương (Lc 2,14). Chúa Giê-su không đến đem bình an cho trái đất, vì cái yên ổn trên trái đất là sản phẩm của những trạng huống hồ đồ, những chân lý nửa vời, của cán cân thăng bằng không lành mạnh giữa lòng tham và tính nhát đảm. Cái bình an trên cõi đời, trong gia đình hay ngoài xã hội, thường che giấu một trật tự bất công do kẻ mạnh áp đặt, hoặc một mức độ đạo đức yếu kém mà mọi người đành chấp nhận. Tin Mừng thì luôn đánh thức óc phê bình, và sự có mặt của chỉ một người Ki-tô hữu đang sống trong chân lý thôi có khi cũng đủ để gây áy náy cho nhiều người : Ga 3,20 ; 15,18. Tin Mừng thôi thúc chúng ta tự do hơn khi quyết định, không sợ bị người chung quanh phê phán, khi nắm chắc rằng những người này không thể hiểu các giá trị Tin Mừng đã hướng dẫn những lựa chọn của chúng ta. Ví dụ một cô gái lỡ mang thai phải tranh đấu như thế nào để kháng cự những lời lẽ của cha mẹ vẫn khuyên cô đi phá thai. Tại nhiều nước, người Ki-tô hữu đã bị bách hại vì họ dạy rằng luật Thiên Chúa cao trọng hơn quyền cha mẹ được coi như tối thượng. Đó là trường hợp đã gặp thấy tại Rô-ma thời thượng cổ, và tại nhiều cộng đồng hiện nay. Đàng khác, còn có ma quỷ âm mưu bách hại tất cả những ai muốn hoán cải trở về chính đạo để làm họ phải khiếp sợ mà tháo lui. Không xứng với Thầy (c.37). Chúa Giê-su không chỉ ngỏ lời với những nhà truyền giáo hay những vị được giao một sứ mạng phi thường mà thôi. Chúng ta tất cả phải thoát ly với những vương vấn làm cho ta quá lệ thuộc vào gia đình và cản trở sự phát triển nhân bản và thiêng liêng của mình. Ai yêu mến Chúa Ki-tô sẽ đủ sức mạnh để thoát ra khỏi những ràng buộc cầm giữ các thành viên trong gia đình ở một mức sống đạo an phận thủ thường.  

* 11,2
 X. phần bình giải Lc 7,18. Chúa Giê-su đã sai các nhà truyền giáo đầu tiên ra đi : đối với Mt, đây là lúc nên chỉ cho thấy Nước Trời các ông rao truyền đang đến như thế nào ! Cuộc thăm hỏi của các môn đệ ông Gio-an sẽ giúp cho thấy những gì Nước Trời đem đến và những gì không nên mong chờ Nước Trời đem đến. Đoạn tiếp theo, bắt đầu từ 11,25, sẽ cho thấy rằng điều căn cốt trong Nước Trời hệ tại chính con người Chúa Giê-su. Kẻ nghèo được nghe Tin Mừng (c.5). Điều mà Chúa Giê-su công bố cho người đương thời biết là một Tin Mừng, bởi đó là một thông điệp bất ngờ chưa ai dám ước mơ, làm cho mọi người tràn trề hy vọng và tìm lại được phẩm giá của mình.  LOAN TIN MỪNG CHO KẺ NGHÈO LÀ MỘT ƯU TIÊN Kẻ nghèo được nghe Tin Mừng. Phải đọc đoạn này cùng một trật với Lc 1,52 ; 4,18 ; 6,20 ; 10,23. Nếu hiểu rằng Chúa Giê-su chỉ kêu gọi chúng ta đi dạy học cho những người ít học hoặc thuộc tầng lớp xã hội thấp kém, là hiểu sai đoạn văn. Vào thời Chúa Giê-su, các người Pha-ri-sêu đã tưởng rằng họ phải giáo dục những người mộc mạc và thất học. Chúa thì trái lại, sai các Tông Đồ của mình là những người cũng nghèo như người nghèo đang nghe các ông giảng, để cho họ biết Thiên Chúa đã đến với họ, và giúp họ khám phá ra Người đang hoạt động giữa họ trước khi đến với người khác. Chính ở giữa người nghèo và từ giới nghèo mà diễn ra những kinh nghiệm có tính quyết định cho việc đổi mới thế giới và đời sống thiêng liêng của người giàu cũng như người nghèo. C.11 Chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả. Lối nói này được dùng để mở đầu những đoạn nói về một nhân vật trọng yếu, là vua hoặc ngôn sứ. C.12 Cũng có thể dịch : “Nước Trời dùng sức mạnh tự mở đường cho mình” (x. Rm 1,16). Nước Thiên Chúa là một sức mạnh đẩy lịch sử tiến lên, lợi dụng các thay đổi tiệm tiến cũng như bạo phát xảy ra trong thế giới loài người. Người Ki-tô hữu được mời gọi tích cực tham gia vào cuộc biến hoá không ngừng này.  

* 11,20
 Kho-ra-din và Bết-xai-đa : hai thành phố này có những cơ sở, có trình độ học đạo cấp cao, nhưng ở đó người ta đã không đón nhận Tin Mừng. Tia và Xi-đôn là hai thành phố ngoại giáo đã từng bị các ngôn sứ nguyền rủa (Is 23,1-12 ; Gr 47,4).  

* 11,25
 Tình mật thiết giữa Chúa Giê-su và Cha của Người. Chúa Giê-su cầu nguyện, gây ấn tượng sâu đậm trong lòng các môn đệ. Ở đây là một lời nguyện tạ ơn ngắn, cảm hứng từ những biến cố mới nhất vừa xảy ra.  Cha đã giấu không cho bậc thông thái biết. Dĩ nhiên không phải hễ thông thái là bị loại ra khỏi thế giới của lòng tin, nhưng có điều làm rạng danh Thiên Chúa là không bao giờ đức tin bị hiểu là một đặc ân dành riêng cho hạng người hiền triết và thông minh cả. Cốt tuỷ cuộc đời không hề do sự khôn ngoan trí tuệ của người phàm mà tìm thấy được, thường khi nó còn bị những thứ ấy che khuất nữa. Lúc bấy giờ tại Pa-lét-tin có vài bậc hiền triết và lắm kẻ được gọi là người khôn ngoan, nhưng họ đâu có đông trong số các môn đệ Chúa Giê-su. Cha tôi giao phó mọi sự cho tôi. Thiên Chúa an bài mọi sự cần thiết để mọi nơi mọi thời, loài người tìm thấy con đường đến với Người. Nhưng chỉ có Chúa Giê-su mới là Đấng mặc khải cho chúng ta nhận biết, ngay từ đời này, gương mặt của Thiên Chúa Cha.  Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Lòng khiêm nhường của Chúa Giê-su biểu lộ lòng khiêm nhường của chính Thiên Chúa. Thiên Chúa không bao giờ tìm cách hạ thấp hoặc uy hiếp chúng ta, ngược lại, Người còn muốn nâng cao chúng ta lên tới Người. Lòng khiêm nhường ấy không cản Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa. Người còn có thể hoạt động từ tận đáy lòng của chúng ta chớ không phải áp đặt từ bên ngoài : Hãy học với tôi. Nhờ đó, Người cũng có thể đòi hỏi chúng ta rất nhiều, đòi hỏi tất cả. Hãy đến cùng tôi. Tôi sẽ không cất đi gánh nặng của anh em, nhưng nếu nhận mang lấy ách của tôi, anh em sẽ có thể mang gánh nặng của mình. Chúa Giê-su “chơi chữ” với ách và gánh nặng, vì người Do-thái quen gọi giáo lý truyền thụ cho học viên là “gánh nặng”, và việc học viên ngân nga đọc thuộc lòng các bài giáo lý là “ách”. Chúa Giê-su, người thầy kiên nhẫn và khiêm tốn, giúp chúng ta khám phá lòng thương xót của Thiên Chúa trong cuộc đời mình và ngay cả nơi thập giá đè nặng trên mình nữa. Chúa bày tỏ tình thương của Thiên Chúa ngay trong những đòi hỏi của Luật. Chỉ có Thiên Chúa là thiện hảo, và uy quyền của Chúa Ki-tô là thiện hảo.   

* 11,25
 Tình mật thiết giữa Chúa Giê-su và Cha của Người. Chúa Giê-su cầu nguyện, gây ấn tượng sâu đậm trong lòng các môn đệ. Ở đây là một lời nguyện tạ ơn ngắn, cảm hứng từ những biến cố mới nhất vừa xảy ra.  Cha đã giấu không cho bậc thông thái biết. Dĩ nhiên không phải hễ thông thái là bị loại ra khỏi thế giới của lòng tin, nhưng có điều làm rạng danh Thiên Chúa là không bao giờ đức tin bị hiểu là một đặc ân dành riêng cho hạng người hiền triết và thông minh cả. Cốt tuỷ cuộc đời không hề do sự khôn ngoan trí tuệ của người phàm mà tìm thấy được, thường khi nó còn bị những thứ ấy che khuất nữa. Lúc bấy giờ tại Pa-lét-tin có vài bậc hiền triết và lắm kẻ được gọi là người khôn ngoan, nhưng họ đâu có đông trong số các môn đệ Chúa Giê-su. Cha tôi giao phó mọi sự cho tôi. Thiên Chúa an bài mọi sự cần thiết để mọi nơi mọi thời, loài người tìm thấy con đường đến với Người. Nhưng chỉ có Chúa Giê-su mới là Đấng mặc khải cho chúng ta nhận biết, ngay từ đời này, gương mặt của Thiên Chúa Cha.  Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Lòng khiêm nhường của Chúa Giê-su biểu lộ lòng khiêm nhường của chính Thiên Chúa. Thiên Chúa không bao giờ tìm cách hạ thấp hoặc uy hiếp chúng ta, ngược lại, Người còn muốn nâng cao chúng ta lên tới Người. Lòng khiêm nhường ấy không cản Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa. Người còn có thể hoạt động từ tận đáy lòng của chúng ta chớ không phải áp đặt từ bên ngoài : Hãy học với tôi. Nhờ đó, Người cũng có thể đòi hỏi chúng ta rất nhiều, đòi hỏi tất cả. Hãy đến cùng tôi. Tôi sẽ không cất đi gánh nặng của anh em, nhưng nếu nhận mang lấy ách của tôi, anh em sẽ có thể mang gánh nặng của mình. Chúa Giê-su “chơi chữ” với ách và gánh nặng, vì người Do-thái quen gọi giáo lý truyền thụ cho học viên là “gánh nặng”, và việc học viên ngân nga đọc thuộc lòng các bài giáo lý là “ách”. Chúa Giê-su, người thầy kiên nhẫn và khiêm tốn, giúp chúng ta khám phá lòng thương xót của Thiên Chúa trong cuộc đời mình và ngay cả nơi thập giá đè nặng trên mình nữa. Chúa bày tỏ tình thương của Thiên Chúa ngay trong những đòi hỏi của Luật. Chỉ có Thiên Chúa là thiện hảo, và uy quyền của Chúa Ki-tô là thiện hảo.   


* 12,22
 X. phần bình giải Mc 3,22. Đệ tử các ông (c.27). Chúa Giê-su ám chỉ những người Do-thái chuyên nghề trừ quỷ hay dùng những lời kinh và công thức trừ quỷ, như thấy trong Cv 19,13. Tội nói phạm đến Thần Khí (c.31). Đó là tội đem những tác động của Thần Khí mà gán cho ma quỷ, như thấy trong Mc 3,30. Cả đời này lẫn đời sau (c.32). Đây là lối nói trong tiếng Do-thái có nghĩa là tội này không tha thứ được trước mặt Thiên Chúa và trước mặt thiên hạ. Kẻ nào phủ nhận Thần Khí, hiện thân của lòng thương xót, thì làm sao có thể được tha thứ ?  Cây mà tốt (c.33). Câu này cũng là một áp dụng những điều chúng ta đã đọc ở 7,16. Ở đây các người Pha-ri-sêu tố cáo Chúa Giê-su : họ vu khống những ai làm điều tốt, vì lòng họ hay nghĩ xấu cho người ta. Nhờ lời nói của anh mà anh sẽ được trắng án ; và cũng tại lời nói của anh mà anh sẽ bị kết án (c.37). Xem Lc 19,22. Không phải chỉ có những hành động lẻ tẻ trong đời chúng ta mới bị xét đoán. Chúng ta đã mất bao nhiêu năm trời để tạo lập một triết lý thực tiễn và một nhân sinh quan nào đó. Từ đó mà chúng ta xét đoán những cái nơi người khác chất vấn lại những lựa chọn của chúng ta. Chính điều này, những lời lẽ mà chúng ta nói lên để tự bào chữa trước mặt chính mình và lên án tha nhân, chính nó sẽ kết án chúng ta.  

* 12,38
 Hôm ấy Chúa Giê-su không làm phép lạ vì các chuyên viên nhà đạo đòi Chúa đưa ra những chứng cứ thay vì nghe Chúa nói. Thế hệ gian ác và ngoại tình (c.39). Kinh Thánh dùng cụm từ này để chỉ những người có đức tin mà thất tín, tuy ngoài miệng không chối bỏ Thiên Chúa, nhưng trong lòng thì họ đi thờ những thần khác.  Câu chuyện thần ô uế (c.43tt) –nghĩa là ma quỷ– nhắm tới người đồng thời với Chúa Giê-su. Họ đã đón nhận lời kêu gọi sám hối của ông Gio-an Tẩy Giả và đã thay đổi nếp sống trong một thời gian. Nhưng họ chưa cảm nghiệm được Thiên Chúa, chưa khám phá cái sức mạnh nội tâm có thể giúp họ kiên trì, nên sẽ trở lại con đường mù quáng của họ.  Dân thành Ni-ni-vê : x. Gn 3,5. Nữ hoàng Phương Nam : x. 1 V 10. Dấu lạ ngôn sứ Giô-na là cuộc phục sinh của Chúa Giê-su. Nhưng hướng suy diễn trong Mt khác với Lc 11,30.  

* 12,46
 Mẹ và anh em của Người. Nếu Chúa Giê-su có những anh em ruột, nghĩa là những người mà Đức Ma-ri-a đã sinh ra, thì Tin Mừng đã ghi “Mẹ Người và các con của mẹ Người”, vì đó là cách nói của người Do-thái. Điểm này được triển khai ở Mc 3,31.  

* 13,1
 Ở đây mở đầu “diễn từ thứ ba” của Chúa Giê-su trong Mt (x. phần Dẫn Nhập). Chúa Giê-su đã sai các Tông Đồ đi công bố Nước Thiên Chúa đã đến. Người ta đã mục kích những điềm lạ tiên khởi : chữa lành bệnh tật và chiến thắng ma quỷ, nhưng cũng có không ít những chống đối, và dường như lòng dân nói chung chưa mở ra đón nhận. Phải nghĩ gì về một Nước Thiên Chúa không có khả năng thay đổi cuộc sống con người bao nhiêu ? Để trả lời, Mt đưa ra bảy dụ ngôn sau đây. Chúa Giê-su dùng những lối so sánh theo kiểu của nhà nông và người lao động. Châm ngôn và dụ ngôn bao giờ cũng là phương tiện truyền đạt những lẽ khôn ngoan. Nhưng không phải cứ so sánh ví von là thành dụ ngôn đâu. Dụ ngôn làm cho người nghe ý thức họ đang ở trong hoàn cảnh như thế nào và buộc họ phải chọn lập trường nào.  Đối với người nghe Chúa Giê-su, Triều Đại Thiên Chúa đến có nghĩa là dân Chúa đang bị áp bức được giải phóng, và ở điểm này thì người ta muốn Chúa tỏ thái độ. Về phần Chúa thì chỉ có thể trả lời cho những ai đang đồng hành với Người thôi. Bởi Nước Thiên Chúa như là những mầm đang trồi lên khắp đó đây trên trái đất, những điều chắc chắn đang dậy men, mà không thể thấy được nếu chưa tin. Chúa chỉ nói đến những điều đó qua hình ảnh, và chúng ta chỉ đoán hiểu được nếu đã có một ít kinh nghiệm. Về dụ ngôn người gieo giống có thể được xem như tiêu chí của chương này, x. phần bình giải Mc 4,1 và Lc 8,4. Gieo giống là dấu hiệu hy vọng. Chúa Giê-su đã lao vào một công trình vô vọng : cứu dân mình trong khi hầu như chẳng ai có khả năng ngăn chặn luồng bạo lực đang dậy lên, vì xã hội đầy những phe phái ngày càng chống đối nhau gay gắt. Để xoay chiều hướng của lịch sử, Người chỉ dựa vào sức mạnh của lời Thiên Chúa được công bố và thực thi. Sẽ có nhiều thất bại, nhưng mùa gặt chắc chắn sẽ tới nếu hạt giống chịu chết đi trong lòng đất.  

* 13,11
 Bởi vì anh em thì được hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, vì đã nghiêm túc hưởng ứng lời kêu gọi của Đấng Ki-tô. Lời trích dẫn sấm ngôn trong Is đôi lúc khiến chúng ta dội vì chúng ta không quen với lối diễn tả của tiếng Híp-ri. Vậy Chúa Giê-su phải nói dụ ngôn bởi vì các thính giả không chịu hiểu, hay là cốt để cho họ không hiểu ? Có thể là vì cả hai lý do (so sánh c.13 với c.15). X. phần bình giải Mc 4,11. Ai có thì được cho thêm (c.12). Ở đây, “có” có nghĩa là cho ra hiệu quả tốt, sinh ích, ăn nên làm ra, như cây “có trái” vậy. Ai sinh hoa trái thì được cho thêm. Nước Trời. Ở trên, chúng ta đã thấy người Do-thái dùng chữ “Trời” để chỉ Thiên Chúa (cũng như người Việt). Nước Trời là Nước Thiên Chúa (Mc và Lc cũng dùng như vậy), và Cha trên trời là Thiên Chúa Cha. Vì không hiểu cách dùng từ như thế, nên nhiều người lầm tưởng “Nước Trời” trong Tin Mừng chỉ có nghĩa là cái thực tại chúng ta được hưởng sau khi chết, được về trời với Chúa mà thôi. Thật ra, Chúa Giê-su cho biết Nước Thiên Chúa đã manh nha giữa chúng ta rồi.   


* 13,18
 Ai sẽ đón nhận lời Chúa ? Đây không phải là một câu trắc nghiệm về trí tuệ hay khả năng suy tư, cũng không phải về mặt sùng đạo. Ai là người còn biết hy vọng thì sẽ đón nhận lời Chúa. Kẻ được gieo bên vệ đường là những người không tha thiết với lời đã được đón nhận. Có lẽ là vì họ không thấy gì khác ngoài lợi ích riêng (họ ích kỷ), nhưng thường hơn là vì họ đã định hướng cuộc đời họ theo một lối khác rồi.  Tiếp đến là những người không dám đối mặt với những mâu thuẫn, dễ bỏ cuộc : họ vấp ngã ngay. Có hy vọng thì mới kiên trì được mặc dù gặp bao nhiêu cản trở. Nếu Thiên Chúa đã đặt ta trên một nẻo đường, thì nẻo đường này phải đưa ta tới một nơi nào đó. Để hy vọng, phải có ý chí trung kiên và lòng anh dũng. Sau nữa là những kẻ được gieo vào bụi gai. Họ tin đó, nhưng hoa quả gặt hái trên lộ trình gian khổ không đủ cho họ. Họ muốn “giữ lấy mạng mình”, vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của. Chạy theo những lợi lộc đời này là việc họ không bỏ được, thế nên niềm hy vọng Nước Chúa nơi họ chỉ là một ước muốn hời hợt.   

* 13,24
 Chúa Giê-su dùng dụ ngôn cỏ lùng để trả lời cho những người thấy bức xúc trước cái xấu có mặt ở khắp mọi nơi. Cái xấu cái tốt sẽ pha lẫn với nhau mãi đến ngày tận thế. Sẽ luôn thấy cái thiện lẫn với cái ác nơi cá nhân cũng như trong các cơ cấu loài người.  Thiên Chúa tôn trọng con người, biết rõ các cơn cám dỗ nơi họ thường mãnh liệt hơn ý chí ngay lành của họ, và họ cần có thời gian để tìm thấy và chọn lựa cái tốt.  Thiên Chúa rất kiên nhẫn. Việc hoà giải ngần ấy nhóm người đối lập nhau, những lực lượng và luồng văn hoá rất khác nhau trên thế giới, sẽ chỉ đạt được vào cuối thời. Trong khi chờ đợi, không nên tuyên bố bên này là tốt bên nọ là xấu. Chúa Giê-su đã đích thân giải thích dụ ngôn này (x. c.36tt).  


* 13,24
 Chúa Giê-su dùng dụ ngôn cỏ lùng để trả lời cho những người thấy bức xúc trước cái xấu có mặt ở khắp mọi nơi. Cái xấu cái tốt sẽ pha lẫn với nhau mãi đến ngày tận thế. Sẽ luôn thấy cái thiện lẫn với cái ác nơi cá nhân cũng như trong các cơ cấu loài người.  Thiên Chúa tôn trọng con người, biết rõ các cơn cám dỗ nơi họ thường mãnh liệt hơn ý chí ngay lành của họ, và họ cần có thời gian để tìm thấy và chọn lựa cái tốt.  Thiên Chúa rất kiên nhẫn. Việc hoà giải ngần ấy nhóm người đối lập nhau, những lực lượng và luồng văn hoá rất khác nhau trên thế giới, sẽ chỉ đạt được vào cuối thời. Trong khi chờ đợi, không nên tuyên bố bên này là tốt bên nọ là xấu. Chúa Giê-su đã đích thân giải thích dụ ngôn này (x. c.36tt).  

* 13,31
 Trong dụ ngôn hạt cải, Chúa Giê-su cho biết Nước Trời phải là một dấu chỉ : nó lớn lên thế nào đó mà người ta không thể không biết đến nó trong thế giới. Mọi trào lưu đạo đức, mọi cách tân văn hoá, mọi phong trào cách mạng, đều phải trụ vào trong một cơ cấu cho nó có một bộ mặt để trở nên hữu hình và hữu hiệu. Đó là một cách Chúa Giê-su tiên báo về Hội Thánh, nơi thể hiện Nước Trời (không phải chủ nhân độc quyền). Nghĩa gốc Hy-lạp của từ “Hội Thánh” là “cộng đoàn những người được gọi”. Hội Thánh này phải có hai đặc điểm sau đây :  – hữu hình và hữu ích cho trần thế, như cây cành cho chim đậu làm tổ ; – đâm rễ vào những thực tại nhân sinh. Người có đức tin là men cho đời, vì vậy họ không được sống tách rời những người không có đức tin.  Chúa Giê-su không chỉ hài lòng với một “Hội Thánh vô hình”, một nhóm huynh đệ tình cảm, một tình hiệp thông thiêng liêng giữa tất cả những ai tin vào Người. Người muốn một thứ cây cao bóng cả (nơi khác Chúa nói đến một thành phố xây trên đỉnh núi cao), để mọi người thấy được rằng hạt giống này là loại tốt và đầy sức sống. Chúng ta cần có những cộng đoàn có tổ chức, có qua lại với nhau, một phẩm trật. Nhưng các nhóm người Ki-tô hữu không nên khép kín, mỗi nhóm chỉ biết có nhóm của mình, cũng không dành hết thời giờ mà làm việc chỉ cho giáo xứ, Giáo Hội của mình mà thôi. Họ phải là những người hữu ích trong xã hội, hiệp thông với tất cả những người có thiện chí khác. Họ phải là men trong toàn khối bột chớ không phải để dành làm một thứ bột riêng biệt mịn màng hơn đâu. Men đó biến đổi lịch sử loài người, không phải bằng cách đưa mọi người đi đến nhà thờ, nhưng bằng cách đổ tràn Thần Khí xuống, ban sức sống cho mọi hoạt động của con người.  


* 13,34
 Tất cả các điều ấy, Đức Giê-su dùng dụ ngôn mà nói. Đọc Mt 13,12, tưởng chừng như Chúa Giê-su nói bằng dụ ngôn để nguỵ trang giáo lý của Người, nhưng ở đây chúng ta có một cách giải thích khác, điều chỉnh và bổ sung cho cách thứ nhất. Sở dĩ Chúa dùng dụ ngôn là vì đó là lối giảng huấn thích hợp cho mọi lứa tuổi.  Tôi sẽ kể dụ ngôn. Đó là những lời dẫn đầu Tv 78, mà tác giả Mt đã cải biên đôi chút. Ý ông muốn nói : những bí mật về Nước Thiên Chúa, mà Chúa Giê-su đã mặc khải, giải đáp những chất vấn then chốt của nhân loại. Từ thuở văn minh mới khởi đầu, con người đã phải đối phó với những vấn đề và thách đố mà một mình nó vô phương giải quyết. Nay Chúa Giê-su trao cho chìa khoá giải toả các mâu thuẫn ấy. Khoa học giúp khám phá ra nhiều yếu tố làm nên vận mệnh con người, nhưng chúng ta còn phải biết mình là ai. Giải đáp của Chúa Giê-su không như một học thuyết và gây ngỡ ngàng cho những người quen học theo sách vở. Chúa cho chúng ta những bài học phong phú hơn nhiều nhờ những kiểu nói và ẩn dụ đòi hỏi chúng ta có phần sáng tạo, và chúng ta sẽ còn trở lại điểm này. Mỗi người phải đào sâu những bài học đó trong cuộc sống của mình, theo dòng lịch sử. Chỉ với thời gian chúng ta mới khám phá được tất cả ý nghĩa của nó.  


* 13,36
 Ruộng là thế gian. Dụ ngôn này không chỉ ứng dụng cho những kinh nghiệm đời người của mỗi chúng ta, hoặc của Giáo Hội như trường hợp dụ ngôn chiếc lưới (c.37). Nó mời gọi chúng ta nhìn thấy một Nước Thiên Chúa “phủ sóng” toàn bộ cuộc sống của thế giới : nó triển nở trong mọi chiều kích của thế giới trần tục. Lịch sử thánh không chỉ là lịch sử thời xưa của quê hương Chúa Giê-su, mà là toàn bộ lịch sử nhân loại được đặt dưới quyền làm Chúa của Đức Ki-tô Phục Sinh.  Đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy (c.40). Chúa Giê-su nói về một cuộc phán xét. Niềm mong đợi thấy ngày Thiên Chúa xét xử trần gian là một yếu tố chủ yếu trong giáo huấn các ngôn sứ. Không nên chỉ thấy trong đó ước muốn báo thù của những kẻ đã sống ngay lành nhưng gặp phải hoạn nạn đau thương. Một trong những chân lý căn bản của nhân sinh quan Ki-tô giáo là xác tín rằng cuộc đời mình sẽ được phán xét bởi một Đấng xét soi thấu tận lòng dạ con người. Như vậy chúng ta hiểu được tính cách bi hùng của các quyết định mà chúng ta chọn lựa ngày này qua ngày nọ, vạch ra một con đường đưa đến chân lý, hoặc khựng lại trong thái độ chối từ ánh sáng. Niềm xác tín này gây sốc cho không ít người thời đại chúng ta, cũng như trước đây nó đã làm cho bao nhiêu người sợ hãi. Các thuyết về luân hồi xem ra dễ chấp nhận hơn, có lợi hơn : lỗi lầm ở kiếp này có thể được đền bù trong kiếp sau. Người ta nghi vấn về tầm quan trọng các lựa chọn của chính mình, và ý nghĩa của tội ác mờ nhạt đi cũng như tâm thức về sự hiện diện của Thiên Chúa. Cuối cùng người ta đâm nghi không biết cuộc đời mỗi người có một giá trị độc nhất vô nhị hay không, có phải trên đời này mỗi người có một giá trị độc nhất không gì thay thế được hay không.  Tuy có khẳng định lại về cuộc phán xét, nhưng dụ ngôn vắn gọn này hàm chứa một yếu tố hết sức cách mạng : phán xét là một bí mật thuộc quyền Thiên Chúa, và cho đến ngày tận thế, cái tốt cái xấu có mặt lẫn lộn nơi mỗi người chúng ta cũng như trong mọi cơ cấu xã hội loài người. Đọc Kinh Thánh, có lẽ chúng ta dội khi thấy không chỉ trong Cựu Ước mà ngay cả trong Tân Ước, thế giới luôn chia đôi giữa thiện và ác. Thật ra, nội giới con người là cả một mầu nhiệm lớn. Không phải có một nhóm người tốt (là ta, ta nghĩ vậy (!), là những người có đức tin, những người cùng một lối sống đạo làm người như ta), và những người khác còn lại. Vậy tại sao Chúa Giê-su lại phân chia loài người ra thành nhóm như thế ?  Xin trả lời ngắn gọn rằng Chúa đã nói theo kiểu các ngôn sứ. Nói về người lành kẻ dữ là một lối nói bình dị, phù hợp với não trạng những đám dân chưa được mở mang nhiều, để chỉ cho họ biết rằng mỗi người trong chúng ta, trong mỗi một hành động của mình, đều có một chân vướng vào một trong hai hướng đi ngược nhau như vậy đó. Đã bao nhiêu lâu người ta cảm thấy mình được đánh giá kiểu đó : nhiều lúc, kiểu đó còn có ý nghĩa và có tính sư phạm đối với chúng ta. Nhưng điều quan trọng phải hiểu là ở đây, Chúa Giê-su không gán cho các hình ảnh một giá trị tuyệt đối : đối với đa số chúng ta, ranh giới phân chia thiện ác đâu phải rành mạch, cho dù chúng ta đã bước những bước quyết liệt trong những lần hoán cải.  Đầy tớ (c.27) là các tín hữu, đặc biệt là các người có trách nhiệm trong Giáo Hội. Có thể lòng nhiệt thành nơi họ –muốn loại trừ mọi cái họ cho là xấu để bảo vệ cái họ cho là tốt– bị sai lệch từ bên trong. Họ muốn đình chỉ mọi sai lầm ư ? Thật ra, họ chỉ tin tưởng vào quyền bính hoặc sức mạnh. Nếu các “thầy dạy” đức tin không để cho các tín hữu khả năng suy tư và sai lầm thì Giáo Hội đâu còn sống động nữa. Thiên Chúa thích để cho sự việc tự nó sáng tỏ hơn : để cho loài người thử sống kinh nghiệm của mình. Cái ác là một phần của mầu nhiệm Thập Giá, nhưng nhờ làm điều thiện và sống trong ánh sáng, chúng ta sẽ thắng điều ác (Rm 12,21).  


* 13,44
 Dụ ngôn kho báu và ngọc quý mời gọi chúng ta đừng để mất cơ hội khi Nước Thiên Chúa đến. Nhiều người đã bao nhiêu năm chờ đợi một lời nói, một người nào đó hay một dấu hiệu hy vọng, làm cho đời họ có một ý nghĩa mới, và bỗng một hôm, họ tìm thấy được. Có khi đó là một cái gì rất đơn giản : một lời tha thứ, một cử chỉ thân tình, một lời cam kết lần đầu được trao và được nhận. Bấy giờ họ hiểu ra rằng đằng sau chuyện nhỏ ấy là chính cái mà họ trông mong, và họ vui mừng bước vào Nước Chúa. Nhưng dụ ngôn lại thêm : liền chôn giấu lại. Thường là Thiên Chúa giấu lại kho tàng sau khi đã chỉ cho ta thấy. Nó chỉ thuộc về ta sau khi ta đã bền bỉ kiên trì và chịu đựng khổ đau để có khả năng lãnh nhận kho báu ấy.  Bán tất cả những gì mình có. Chúng ta cũng phải vứt đi tất cả những thói quen, những thú vui thường xâm chiếm mà không thoả mãn tâm hồn chúng ta. Trong sóng gió và bão táp cuộc đời, chúng ta phải nhớ đến kho báu đã tìm thấy, cho đến khi được gặp lại nó. Triết gia Pla-tôn nói : “Đời đen tối mà tin trời sẽ sáng mới là kỳ diệu.” CÁI XẤU TRONG LÒNG GIÁO HỘI  


* 13,47
 Những ai gia nhập Giáo Hội thì được hưởng phần phúc Nước Trời, nhưng họ đâu nắm chắc rằng họ sẽ không có nguy cơ đánh mất. Khi nói về chiếc lưới, Chúa Giê-su nhắc nhở chúng ta rằng lẽ sống của Giáo Hội là được sai đi (“lưới người như lưới cá”), mặc dù sẽ có nhiều người đến rồi sẽ bỏ đi. Một Giáo Hội đóng kín chưa chắc sẽ gồm toàn người tốt.  HOẢ NGỤC Các thiên thần sẽ quăng chúng vào lò lửa. Lời khẳng định này, tương tự lời ở c.30, củng cố điều mà toàn bộ Sách Thánh loan báo : chúng ta tiến về một cuộc phán xét, và sự sống sung mãn sẽ được tặng ban cho những ai ở “trong” Chúa ; ngược lại ai chối từ sự sống chỉ còn biết một số phận vô vọng. Giáo Hội vẫn dùng ngôn ngữ Kinh Thánh mà nói về một hoả ngục đời đời. Vào tk. XII, thì từ “luyện ngục” được sử dụng để chỉ cuộc thanh luyện đau đớn mà sau khi chết, tất cả những ai nhận được ơn cứu độ sẽ phải trải qua, trừ phi lúc còn bình sinh họ đã được ngọn lửa tình yêu Thiên Chúa thiêu đốt. Lời khẳng định về luyện ngục gây khó chịu cho những người chưa từng cảm nghiệm sự thánh thiện của Thiên Chúa. Sự thánh thiện này không bao giờ xuất hiện mà không thiêu huỷ tất cả những gì thuộc về chúng ta. Những người đó đã thật sự lường được “trở nên Thiên Chúa trong Thiên Chúa” đòi hỏi những gì chưa ?  Hoả ngục cũng khó nuốt không kém. Hẳn chúng ta biết rằng lửa chỉ là một biểu tượng, và không nên coi đó là một cách Thiên Chúa trả thù. Những kẻ “sa hoả ngục” chính là những kẻ tự giam mình trong cảnh cô đơn bi đát mà không còn có thể từ bỏ nó nữa ; nơi đó họ vừa tự thoả mãn vừa tự tra tấn với cái xấu của bản thân. Vả lại ngày nay chúng ta khó chấp nhận ý niệm một hình phạt không bao giờ chấm dứt, và tìm ra đủ chứng cứ để biện bác. Chắc chắn là Chúa Giê-su đã nói theo ngôn ngữ thời đại của Người chứ không phải của chúng ta : kẻ lành người dữ là một cách chia phạm trù trong văn hoá của dân tộc Người. Nhưng cũng chắc chắn rằng Chúa Giê-su thấu suốt mọi sự về Thiên Chúa và con người : nếu thấy trong “hình phạt” này một điều gì trái ngược với lòng nhân lành vô biên của Thiên Chúa thì Người đã nói ra rồi mà không sợ gây chống đối. Vậy mà Người đã nói như ta đọc thấy, bởi vì tình yêu vô bờ của Thiên Chúa không làm chúng ta mất đi cái tự do thoát ly và kình địch với Thiên Chúa. Chúa Giê-su không chỉ nối kết việc tuyên án với một vài tội phạm gớm ghê mà thôi đâu : mọi người đều sẽ đi đến chỗ một mất một còn. Nhưng cũng phải nhớ Chúa không nói theo phạm trù hoả ngục đời đời hay luyện ngục : bản dịch đây ghi “hoả ngục” cho dễ hiểu, nhưng từ Híp-ri “ghê-hen-na” (Mt 5,22 ; 10,28) hay “lửa” (Mc 9,43) được dùng là những từ mơ hồ có thể hiểu theo cả hai nghĩa – hoả ngục hay luyện ngục. “Lửa hoả ngục” có tính “đời đời” ở nhiều chỗ (Mt 18,8 ; 25,41), nhưng nghĩa của nó không phải hoàn toàn như chúng ta hiểu, mà có thể nó chỉ một thực tại vượt khỏi phạm trù thời gian của chúng ta.  Vậy chúng ta có thể đặt vấn nạn, tuy nhiên cần phải tự hỏi hai điều. Trước hết, nói về những gì Thiên Chúa phải làm hoặc không được làm là như thể buộc Người phải xử cho công bằng. Mà “công bằng” đâu phải là một thực tại tự thân mà có : nó là một phần mầu nhiệm của Thiên Chúa. Mà chúng ta thì biết gì về mầu nhiệm Thiên Chúa ? Kế đến là phải trả lời câu hỏi này : nếu Chúa Giê-su muốn nói rằng một số người sẽ đi đến chỗ bất hạnh không bao giờ chấm dứt, thì Người phải nói như thế nào để chúng ta khỏi nghi ngờ ? Vậy mầu nhiệm Thiên Chúa vẫn còn y nguyên. Tuy nhiên, nếu chúng ta đã rõ Thiên Chúa mời gọi chúng ta đến hưởng một điều gì đó –và hưởng một cách vĩnh viễn–, mà chúng ta phải trả lời nhận hay không nhận ngay khi còn sống, và sống kiếp này chỉ một lần thôi để hoàn thành cái vĩnh hằng của chúng ta, thì hỏi có từ ngữ nào là quá đáng để diễn tả cái mất mát của những kẻ khước từ Thiên Chúa ?   


* 13,51
 Ở đây môn đệ trở thành “kinh sư” ! Luôn tâm niệm lời nói của Chúa Giê-su sẽ giúp người môn đệ rút ra không ngừng những bài học mới mẻ cho những trường hợp mới xảy đến, đồng thời sẽ thấy rõ hơn kinh nghiệm riêng của mình có chỗ đứng thế nào trong kinh nghiệm chung của Giáo Hội.  


* 13,53
 So sánh với Lc 4,14. X. phần bình giải Mc 3,31.  


* 14,1
 X. phần bình giải Mc 6 và 7 khi đọc ch. 14 và 15.  


* 14,13
 X. phần bình giải Mc 6,35 ; Ga 6 ; Mt 15,27. Đúng là các trình thuật trong hai ch. 14 và 15 và ở phần đầu ch. 16 được coi như cấu thành một tổ hợp ngay từ những năm đầu của Giáo Hội. Trong Mc và Lc cũng thấy được tổ hợp tương tự. Như trong tất cả các bản văn đã từng một thời là truyền khẩu, có những ý tưởng tương đồng và những từ then chốt giúp móc nối chúng lại với nhau. Ở đây, chữ bánh có thể là một trong các điểm tương đồng. Đừng quên bánh là thức ăn căn bản, như cơm của ta vậy, và “ăn bánh” thật sự như là ăn cơm, nghĩa là dùng mọi thứ thức ăn làm nên một bữa ăn. Đàng khác, người ta không có nhu cầu nào thiết yếu hơn là ăn với mặc, nên các tôn giáo đương nhiên xem cơm bánh là quan trọng. Do đó mà có những câu hỏi và các câu đáp của Chúa Giê-su trong các chương này. Ngay cả thứ bánh dành cho con cái (15,26) cũng là dịp bổ sung các giáo huấn về Thánh Thể đã rút ra từ hai lần Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều.   


* 14,22
 X. phần bình giải Mc 6,45. Các ông hoảng hốt. Vì kém tin, các ông tưởng Chúa là ma và sợ hãi. Một đức tin vững bền có nền tảng chắc chắn thì chế ngự được nỗi sợ hãi và các nguy hại do những gì là mê tín dị đoan. Xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài ! Mt không nhấn mạnh lòng ngờ vực của ông Phê-rô, mà nhấn mạnh đến đức tin yếu kém của ông. Ông là người duy nhất trong nhóm môn đệ dám ước ao một điều có vẻ chỉ dành cho Chúa Giê-su. Trở lên thuyền với các bạn sau kinh nghiệm này, chắc ông được đổi mới sâu xa, tuy đã bị một phen hết hồn.  Người đâu mà kém tin vậy ! Một lần nữa, Chúa Giê-su dành lời quở trách cho những môn đệ đẹp ý Người nhất (như ở 6,30 ; 8,26 ; 16,8 ; 17,20), như thể để thuyết phục chúng ta, những môn đệ tương lai của Người, rằng đức tin của chúng ta hãy còn kém cỏi lắm.  


* 15,1
 X. phần bình giải Mc 7,1. Sao môn đệ ông không chịu rửa tay ? Các người Pha-ri-sêu bênh vực một điều rất tốt mà chính chúng ta cũng làm. Nhưng Chúa Giê-su thấy xa hơn : tất cả những tập quán và lề thói giữ đạo tốt lành ấy (gồm cả việc ăn chay, suy gẫm) dễ trở thành một bức màn che khuất điều chính yếu là thái độ luôn sẵn sàng hưởng ứng những mời gọi của Thiên Chúa, và lòng tin tưởng hết sức đơn sơ vào lượng từ bi của Người, cái duy nhất cứu được chúng ta.   


* 15,10
 X. phần bình giải Mc 7,14. Xã hội loài người ở đâu cũng thấy cần phải biết phân biệt thiện ác, phân biệt theo những tiêu chuẩn loài người. Chúa Giê-su thẩm định các tiêu chuẩn ấy. Thanh sạch và ô uế. Đối với người Do-thái, điều chính yếu là phụng sự Thiên Chúa, và họ lo lắng xem coi ai và cái gì xứng đáng tham dự vào việc phụng tự. Do đó mà họ phân biệt cái gì là thanh sạch, cái gì là ô uế. Chúa Giê-su cho họ biết chỉ có một điều thanh sạch đáng giá là tâm hồn thanh sạch.  Chắc gì những quy định hạnh kiểm của xã hội chúng ta, của nhiều xã hội gọi là tốt, không phải là một kiểu phân biệt mới giữa sạch và uế. Ngay trong Giáo Hội, nhiều thế kỷ trước đây, đã có một xu hướng tặng cho hàng tư tế một sự thanh sạch cho phép họ tiếp xúc những đồ vật linh thiêng, đã làm phép. Thời Trung Cổ, đó là một trong những lý do ngưng cho rước lễ trên tay, điều mà người ta đã quen làm trong suốt mười thế kỷ trước đó.  

* 15,29
 Chúa Giê-su đã hai lần cho bánh hoá ra nhiều. Đây là một trong những phép lạ gây ấn tượng nhiều nhất cho chúng ta. Thường khi từ “phép lạ” bị mất giá. Kinh Thánh dùng nhiều từ để chỉ những gì thật sự được coi là việc Thiên Chúa đã ra tay thực hiện : dấu lạ, điềm thiêng, kỳ công. Từ “phép lạ” theo nghĩa mạnh hàm chứa tất cả những thực tại đó : một dấu chỉ qua đó Thiên Chúa cho ta khám phá ý muốn của Người hoặc trật tự vô hình của thế giới, một điềm lạ đảo lộn mọi tiên lượng thông thường của chúng ta, một kỳ công mà chỉ mình Thiên Chúa có thể thực hiện. Làm cho bánh hoá nhiều là loại phép lạ gây sốc nhiều nhất cho người thời đại chúng ta, cho lòng tin tưởng triệt để của họ vào các “định luật tự nhiên” mà –họ nghĩ– ngay cả Thiên Chúa lẽ ra cũng không được vi phạm hoặc không thể qua mặt mà không mâu thuẫn với chính mình. Và khi không phủ nhận công khai lời chứng của các Tông Đồ thì người ta né tránh tỏ ra lập trường của mình, với những câu như : “Phép lạ còn đẹp hơn nữa nếu ta tưởng tượng rằng Chúa Giê-su chỉ cần mời gọi dân chúng đem chia sẻ thức ăn mình đã mang theo, thì cuối cùng mọi người đều có đủ mà ăn : đây là phép lạ của tình liên đới !” Nhưng Tin Mừng đâu có ý tôn sùng cái tình liên đới, mà muốn ngợi ca sự tự do tuyệt đối của Thiên Chúa, của Chúa Ki-tô : ngay cả thiên nhiên cũng phải im lặng, vì ở đây kẻ chết còn được cho sống lại. Đối với người Ki-tô hữu, tạo thành không phải là một guồng máy khổng lồ mà Thiên Chúa giao lại cho loài người sau khi thoái vị. Nó là một phản ảnh của Thiên Chúa, nơi đó các định luật –là hình bóng của sự khôn ngoan, trật tự và công bằng vốn thuộc bản tính Thiên Chúa–, không bao giờ giảm bớt nhưng vẫn giữ nguyên vẹn sự tự do của Người. Trong suốt lịch sử Ki-tô giáo, Chúa đã từng và vẫn tiếp tục nhân lên thật nhiều những cơm bánh, những thực phẩm đủ loại và cả những của dự trữ, để dành nữa, đặc biệt cho những ai đã cho đi tất cả hoặc đã liều mình vì Chúa. Chỉ cần lắng nghe chứng từ của họ.   

* 16,1
 Họ xin Người cho thấy một dấu lạ từ trời, nghĩa là từ Thiên Chúa mà đến. Họ muốn thấy một phép lạ chứng minh trăm phần trăm rằng Thiên Chúa ở với Người.  Chúng sẽ không được thấy dấu lạ nào. Chúa Giê-su từ chối làm phép lạ để chứng minh quyền uy của mình. Phàm ai yêu chuộng sự thật và tìm sống ngay lành sẽ nhận ra bàn tay Thiên Chúa trong các hành động của Chúa Giê-su, của các môn đệ Người, cho dù nhiều kẻ đã nói xấu các ngài.  Dấu lạ ông Giô-na chỉ cuộc phục sinh của Chúa Giê-su (x. 12,40). Tuy cuộc phục sinh này hẳn là dấu lạ có tính quyết định cao nhất, nhưng chỉ những người có đức tin mới hiểu được điều nó chứng minh. Ai đòi hỏi phép lạ khi chưa tin thì sẽ không được đáp lời.  


* 16,5
 Trong số những gì Chúa Giê-su và các môn đệ đã chia sẻ trong cuộc sống chung ròng rã bấy nhiêu năm tháng, rất ít điều được Tin Mừng giữ lại. Thật là may mắn vì ít ra sách đã chép lại ở đây một trong những câu ngớ ngẩn mà các ông đã thốt ra trước mặt Chúa. Các ông đã hiểu sai lời cảnh cáo của Chúa là vì quá lo lắng những chuyện bức xúc thật, mà nếu trao phó cho Thiên Chúa lo liệu thì vẫn hơn. Phải coi chừng men Pha-ri-sêu và Xa-đốc : x. Mc 8,11. Tin Mừng thường hay ghép hai tên riêng này lại với nhau. Chúng ta biết nhóm Xa-đốc là phái lãnh tụ các tư tế. Họ nắm chức vụ cha truyền con nối, điều khiển sinh hoạt đạo đời của dân Thiên Chúa. Nhóm Pha-ri-sêu thì ngược lại, gồm những ai tự nguyện gia nhập hàng ngũ những người chuyên lo bảo vệ Luật Chúa. Họ là thù địch của nhóm Xa-đốc. Chúng ta không nên nói họ là “những người đạo đức giả, những người loạn tín” ! Thái độ chống đối Chúa Giê-su rất tự nhiên đến từ phía chính quyền xứ sở của Người, bên đạo cũng như bên đời. Làm sao Thiên Chúa có thể viếng thăm dân Người và được đại đa số các lãnh tụ nghênh đón, nếu những người này tự thấy mình là sở hữu chủ các địa vị, quyền bính, tài năng hay công trạng của họ ?   


* 16,13
 Một trong các dụ ngôn về Nước Thiên Chúa đã loan báo về Giáo Hội (Mt 13,31-33). Đoạn văn này cũng lại nói về Giáo Hội. Bản văn : – cho biết Giáo Hội này được đặt trên nền tảng nào : niềm tin vào Đức Giê-su, là Đấng Ki-tô và là Con Thiên Chúa ; – xoay quanh vị trí ông Phê-rô đứng đầu các Tông Đồ ; – gợi ý rằng Giáo Hội luôn cần có một vị lãnh đạo hữu hình.  Thật ra, niềm tin vào Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, mà ông Phê-rô là người đầu tiên trong các Tông Đồ lên tiếng công bố, là một ơn Thiên Chúa ban cho. Niềm tin này không phải do sức phàm nhân mà có được – tiếng Híp-ri dùng cụm từ xác thịt và khí huyết. Không phải do một xác tín thuần tuý “người” mà tin được vào Chúa Ki-tô, cũng không do một sự gắn bó tình cảm suông với con người Giê-su. Lời Chúa nói với ông Phê-rô, Anh thật là người có phúc, cũng có giá trị đối với mọi người tín hữu chúng ta, bởi vì chính Cha của Người đã chọn chúng ta và đưa chúng ta đến với Người (x. Ga 6,37.44 ; Mt 13,16).  Bản văn xác định vị trí đứng đầu của ông Phê-rô. Ông vốn có tên là Si-môn, nhưng Chúa Giê-su đã tặng ông biệt danh Phê-rô nghĩa là Tảng Đá (Ga 1,40) vì ông sẽ là nền tảng Hội Thánh của Người. Sự đổi tên đánh dấu một sứ mạng được giao cho, như đã thấy trong trường hợp các ông Áp-ra-ham và Gia-cóp (St 17,5 và 32,29). Có những bản văn khác xác nhận lòng tin của ông Phê-rô và cho thấy ông hành xử hầu như là người chỉ huy Nhóm Mười Hai : Mt 10,2 ; 14,28 ; 17,25 ; Lc 5,8-10 ; 22,32 ; Ga 6,68 ; 21,15-19.  Những lời Chúa Giê-su nói với ông Phê-rô có giá trị đối với những người kế vị ông hay không ? Từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã muốn cho dân Người có một trung tâm điểm hữu hình ; Giê-ru-sa-lem và dân Ít-ra-en vẫn hướng về trung tâm điểm của mình là Đền Thờ và các vua thuộc dòng dõi Đa-vít. Khi tuyển chọn Đa-vít, Thiên Chúa đã hứa cho miêu duệ vua sẽ đời đời ngự trị Vương Quốc Thiên Chúa : lời hứa này đã được ứng nghiệm nơi Chúa Giê-su. Giờ đây Chúa lại chọn ông Phê-rô để làm nền tảng hữu hình cho ngôi nhà Thiên Chúa là Hội Thánh. Hội Thánh thuở ban sơ đã có ông Phê-rô giữ vai nào, thì Hội Thánh trong tương lai cũng sẽ có những người kế vị ông giữ vai ấy.  Người Do-thái hiểu cầm buộc và tháo cởi với nghĩa “xác định rõ điều gì là cấm và điều gì là cho phép”. Ông Phê-rô, và các người kế vị là các giáo hoàng, sẽ nói lời tối hậu để xác quyết ai thuộc và ai không thuộc thành phần Giáo Hội, điều gì Giáo Hội buộc và điều gì Giáo Hội không buộc phải tin. Lịch sử Giáo Hội sơ khai cho thấy từ các thế kỷ đầu tiên, các Giáo Hội địa phương đã có ý thức về quyền bính tối cao của giám mục Rô-ma, người kế vị thánh Phê-rô. Vai trò của ngài cứ phát triển theo dòng lịch sử, và càng mang tính cách tất yếu hơn do những khác biệt về địa lý và văn hoá làm cho các mối căng thẳng giữa các Ki-tô hữu ngày thêm trầm trọng, cứ chia rẽ nhau mãi không cùng trong cách biểu hiện lòng đạo của mình.  Mặc dù nơi các ông, lầm lỗi là thế nhân thường tình, nhưng Chúa Giê-su không thờ ơ đối với những gì các ông phán quyết : dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.  Tuy nhiên, nhìn nhận sứ mạng ấy của người kế vị thánh Phê-rô không có nghĩa là lời nói của ngài sẽ át hẳn tất cả các tiếng nói khác trong một Giáo Hội nín thinh, cũng không thanh minh cho một cơ cấu bóp nghẹt sự sống. Đoạn văn này không phế bỏ những lời khác trong Tin Mừng, cũng quan trọng không kém, nói rằng nền tảng Hội Thánh là cả một tông đồ đoàn (Nhóm Mười Hai). Ông Phê-rô là người giữ cửa (Mc 13,34), nhưng đâu phải là người thầy cũng không phải là người cha (Mt 23,9). Sứ mạng của ông Phê-rô và các người kế vị không cho hiểu rằng tất cả các người có đạo khác đều là những thứ vị thành niên trong lãnh vực đức tin (1 Ga 2,27). Quyền bính các ngài mang được tất cả ý nghĩa của nó trong một Giáo Hội mà mỗi người tập cho quen tự mình biết suy nghĩ và nói lên điều mình nghĩ.  Quyền lực tử thần. Bản gốc Hy-lạp dùng từ “cửa âm phủ”. “Cửa” : bản Việt ngữ dịch “quyền lực” là sát ý (có thể ví chăng với “cửa quyền” trong tiếng Việt). Cho dù quyền lực tử thần đe doạ sẽ triệt hạ Hội Thánh, hoặc cố phát triển bên trong Hội Thánh những mầm huỷ hoại đi nữa, nó cũng không thể cản trở Hội Thánh chu toàn sứ mạng cứu độ của mình. Một phần sách Khải huyền (ch. 12 – 17) phác hoạ cuộc đối đầu này.  Một số đoạn văn khác cho thấy Nhóm Mười Hai là nền móng của Hội Thánh (Ep 2,20 và Kh 21,14). Các ngài cũng nhận lãnh quyền cầm buộc và tháo cởi (Ga 20,23), nhưng trong trường hợp này, rõ ràng là nói về quyền tha tội.  Những lời khác mà Chúa Giê-su đã nói với ông Phê-rô : Lc 22,31 ; Ga 21,15. Các bài trình thuật Mc 8,27 và Lc 9,18 nêu lên vài vấn nạn về lời tuyên xưng của ông Phê-rô : x. phần bình giải Lc 9,18. Chúa Giê-su, đá tảng góc tường : Mc 12,10 ; 1 Cr 3,11 ; Ep 2,20 ; 1 Pr 2,6.  

* 16,22
 X. phần bình giải Mc 8,31. Xa-tan, lui lại đằng sau Thầy. Ông Phê-rô muốn cản đường thập giá của Chúa Giê-su, và Chúa nhận diện đây cũng chính là thần khí đã cám dỗ Người trong hoang địa. Vậy ông Phê-rô phải lui lại đàng sau Chúa và đi theo Người thôi, đúng như một người môn đệ phải làm. Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất. Chúa Giê-su nhắc đến sự chọn lựa trọng đại của mỗi đời người : chỉ khi dâng hiến đời mình để phục vụ Thiên Chúa và người đồng loại, bằng cách yêu thương thật sự như Chúa Giê-su, thì mới tìm được Thiên Chúa, và mới đạt được sự sống (Ga 15,13).  

* 17,1
 X. phần bình giải Mc 9,2 ; Lc 9,28.   

* 17,14
 X. phần bình giải Mc 9,14.  

* 17,22
 Chúa Giê-su đã nhiều lần tiên báo cái chết của Người (x. 16,21 ; 20,17). Người không bao giờ nói về nó như là một tai nạn có thể xảy ra gây cản trở cho sứ mạng của Người. Ga sẽ nói Người coi đó là một phương tiện để tôn vinh Chúa Cha và hoà giải nhân loại (Ga 17). Chúa dùng ngôi thứ ba để nói về chính mình : Con Người, nhìn về số phận của mình như từ quan điểm của người ngoài cuộc. Đó là thánh ý Chúa Cha, và Người không hề lo nghĩ đến bản thân.  

* 17,24
 Mọi người Do-thái thành tín đều trả một phần thuế dành cho việc bảo quản Đền Thờ, và các người thu thuế đến gặp ông Phê-rô bởi lẽ ông là sở hữu chủ căn nhà nơi Chúa Giê-su đang ở.  Chúa Giê-su giữ đúng luật, nhưng thừa dịp này Người cũng muốn tỏ ra cho biết Người là ai : các người thu thuế đâu nghĩ rằng họ đang nói về “người Con”. Xin lưu ý : Chúa là Chúa Tể muôn loài, gồm cả những cá biển, nhưng Người cũng muốn tỏ tình liên đới với ông Phê-rô.  Đoạn văn này được viết ra có thể một phần là vì các Ki-tô hữu gốc Do-thái, là đối tượng mà tác giả nhắm tới, đang tự hỏi họ có còn phải trả phần thuế này nữa hay không.   


* 18,1
 Ở đây mở đầu bài diễn từ thứ tư trong Tin Mừng Mt, không có tính đồng bộ cho lắm, nhưng xoay quanh đời sống cộng đoàn. Bởi những ai kêu lên “Lạy Cha chúng con” rõ ràng không phải là những người lẻ loi. Chúa Giê-su tiếp nhận họ trong “Ít-ra-en của Thiên Chúa” (Gl 6,16) là Hội Thánh của Người, tức là tình hiệp thông nối kết các cộng đoàn lại với nhau.  Cc. 6-11 lo lắng cho kẻ bé mọn ; Cc. 12-14 quan tâm đến người sai lạc ;  Cc. 15-20 hiệp thông huynh đệ với sự hiện diện của Chúa Ki-tô ;  Cc. 21-35 tha thứ ; Cc. 1-5 x. phần bình giải Mc 9,33. NHỮNG KẺ BÉ MỌN Với c.6, từ các em nhỏ chúng ta bước sang kẻ bé mọn, nghĩa là những người đơn sơ chất phác. Họ bé mọn vì họ không có giá trị gì trong xã hội. Khốn cho... vì làm cớ cho người ta sa ngã. Từ gốc Hy-lạp có nghĩa là một viên sỏi trồi lên khiến cho người ta vấp ngã : nó không phải là cái gì gây ồn ào hoặc xôn xao trong xã hội, mà là cái làm cho lương tri mất phương hướng, và người có vẻ lương thiện phải sa ngã (c.7). Thường thì kẻ bé mọn hay tìm cách thoát khỏi hoàn cảnh của mình để trở nên độc lập hơn, muốn có kiến thức và có tiền nhiều hơn. Tuy nhiên, xã hội lại quen thói gây trở ngại cho những ai không đồng loã trong những trò gian xảo và từ chối hành động cách ích kỷ. Vì thế kẻ bé mọn thường phải chịu thua, chấp nhận thất bại, thà chột mắt còn hơn là chối bỏ điều trọng yếu nhất : sống dưới con mắt Thiên Chúa.  Thà cụt tay cụt chân mà được vào cõi sống. Chúa Giê-su nhấn mạnh giá trị vô song của sự sống đời đời. Có lúc nào đó chúng ta phải hy sinh công ăn việc làm của mình, sự an toàn hoặc cả tính mạng nếu muốn được vào Nước Thiên Chúa.  Khốn cho thế gian vì làm cớ cho người ta sa ngã. Có khi đây là nói về chính cái xã hội này, với những tham ô, bạo lực, những cơ cấu bất công của nó. Chúa Giê-su mời gọi chúng ta ý thức về tội lỗi, dù là của cá nhân hay của xã hội : những cơ cấu tác hại sẽ bị huỷ diệt trong nước mắt và xương máu (Lc 23,28). Tất nhiên phải có những cớ gây sa ngã. Chúa Giê-su đã sống trong một thời đại bạo tàn, nhưng Người có vẻ như không than trách hoàn cảnh ấy. Người không mời gọi chúng ta mơ tưởng một địa đàng trần thế. Cái thế giới xác thực mà Thiên Chúa đã tạo dựng và giải cứu không buộc phải là một ốc đảo hạnh phúc, nhưng phải là một nơi trong đó những con người tự do luôn đấu tranh để mà phát triển. Những cớ vấp ngã là thành phần thuộc thế giới này, nhưng quyền lực sự dữ không mảy may giảm thiểu lời tôn vinh mà tạo thành sẽ dâng lên Thiên Chúa vào thời sau hết. Đau khổ và lòng khao khát sống công chính sẽ là nguồn gốc sự thánh thiện ; đó sẽ là những phương cách Thiên Chúa vận dụng để làm tăng trưởng tình yêu.   

* 18,12
 Dụ ngôn một trăm con chiên cũng có trong Tin Mừng Lc (Lc 15), nhưng trong một văn cảnh khác, văn cảnh Thiên Chúa tha thứ : Chúa Giê-su đã đến để tìm và cứu những gì đã mất (Lc 19,10). Còn Mt thì kể lại dụ ngôn này trong khung cảnh một “diễn từ”, một bài giảng về Giáo Hội. Tác giả lấy lại ví dụ này để chỉ cho thấy rằng cộng đoàn và những vị phụ trách phải đặc biệt quan tâm đến những người bé mọn và gặp thử thách nhất. Cũng như đối với Cha trên trời, thì đối với cộng đoàn cũng vậy, mỗi thành viên mang tính độc nhất vô nhị và với tư cách đó, phải được yêu thương và nâng đỡ : vậy làm sao Cha trên trời, làm sao cộng đoàn, có thể chấp nhận để cho một trong những người bé mọn ấy, dù chỉ một thôi, phải hư mất ?   

* 18,15
 Nếu người anh em của anh trót phạm tội... Trước đó, Chúa Giê-su đã nói với ông Phê-rô : dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy. Giờ đây Chúa nói và áp dụng câu này cho toàn thể Giáo Hội. Mọi xung đột được giải quyết với xác tín rằng Chúa Ki-tô đang ở giữa chúng ta : đó chính là danh hiệu của Người, Em-ma-nu-en, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta (1,23).  Hợp lại nhân danh Chúa Giê-su (c.20) : đó là cách cầu nguyện của cộng đoàn, của nhóm tông đồ, của đôi vợ chồng có đạo. Chúng ta có lưu ý chăng : chương nói về Giáo Hội này thật là ngắn ! Ấy là Mát-thêu quan tâm đến Giáo Hội của Chúa Giê-su nhiều nhất, trong các dụ ngôn về Nước Trời cũng như trong đoạn nói về lời tuyên xưng của ông Phê-rô.  Dường như Chúa Giê-su đâu nói chi với các Tông Đồ về những cơ cấu sẽ được dựng lên (hoặc có thể sẽ tan rã) : Chúa chỉ nói về một tinh thần cộng đoàn. Tiếp đón kẻ bé mọn, tha thứ luôn luôn và chấp nhận tha nhân, một cộng đoàn cầu nguyện có những tham vọng tông đồ và kêu cầu nài nỉ Thiên Chúa ban cho điều mình xin : đó là tất cả sự khôn ngoan và những phương tiện mà Giáo Hội có để đương đầu với các thách đố của việc loan báo Tin Mừng.  Chúng ta tìm hiểu Chúa Cha bằng cách tham gia vào các sinh hoạt cộng đoàn, vượt lên trên những xung đột không thể tránh khỏi và kiên trì trong công việc tông đồ. Vậy đối với chúng ta, Giáo Hội là “bí tích Thiên Chúa”, dấu chỉ hữu hình của sự hiện diện của Người và nguồn mạch thông ban sự sống của Người cho chúng ta. Các nghi thức tôn giáo có giá trị thánh thiêng chỉ vì đó là những cử chỉ của Hội Thánh. Thiên Chúa không bị giam giữ trong các đồ vật, nhưng thông qua gia đình Hội Thánh Chúa Ki-tô, Người tỏ mình ra cho loài người : dưới đất anh em cầm buộc điều gì. Sống hoà hợp với cộng đoàn Ki-tô hữu, cho dù chúng ta có điều không đồng ý, là dấu chỉ chúng ta lưu lại trong ơn thánh của Thiên Chúa. Đoạn văn 18,15 có phần khả nghi. Có thể nguyên thuỷ là : Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi nói chuyện với nó và đây là trường hợp cộng đoàn cố gắng “chỉnh” một người anh em đã mắc sai lầm.  

* 18,21
 Bảy mươi lần bảy. So sánh với St 4,24 : sự tha thứ tương phản với lòng ước muốn trả thù. X. Lc 17,3 : chúng ta phải tha thứ, nhưng tha nhân cũng phải tỏ lòng hối hận. SỰ THA THỨ  

* 18,23
 Các đồng bạn mà có lỗi với chúng ta thì đâu là gì so với những tội chúng ta xúc phạm đến Thiên Chúa. Vậy mà trong khi Thiên Chúa tha luôn món nợ cho chúng ta, thì chúng ta lại không cho tha nhân được hoãn nợ một chút nào. Thiên Chúa không đòi quyền lợi, thậm chí tưởng chừng như Người đã quên hết tất cả quyền lợi của Người ; còn chúng ta, bằng cách đòi cho được, chúng ta hành xử như những tên đầy tớ độc ác (x. Mt 5,43). Dụ ngôn này vượt quá phạm vi những vấn đề cá nhân riêng của chúng ta. Hằng ngày chúng ta nghe nói về những mối thù giữa các dân tộc cứ chồng chất mãi lên thật nặng nề, thường là do tôn giáo bất đồng. Bạo lực không giải quyết được những xung khắc về chủng tộc màu da : điều mà thế giới cần nhất là tập cho biết tha thứ. Chúng ta tha thứ không phải cách bởi không biết rõ Thiên Chúa đã tha thứ cho ta những gì rồi và Người có lòng thương xót biết bao. Bài giảng thứ tư trong Tin Mừng Mt kết thúc với dụ ngôn về bổn phận phải tha thứ này. Giáo Hội vẫn còn đang tiến tới sự thánh thiện đúng như bản chất của mình, nhưng không ai có thể bác rằng Giáo Hội thời nào cũng là nơi mà người ta giảng dạy về lòng thương xót của Thiên Chúa, là nơi mà con người học cho biết cách tha thứ.  *19,1 X. phần bình giải Mc 10,2 ; Mt 5,31. Xã hội loài người chỗ nào cũng có luật lệ của nó về hôn nhân. Ở Ít-ra-en cũng thế. Vậy trước đó đã có một luật về ly dị, thích hợp với phân biệt quy chế giữa nam và nữ. Và luật ấy được ghi lại trong Kinh Thánh (Đnl 24,1). Chúa Giê-su không đi vào cuộc tranh luận giữa các kinh sư và các nhà thông luật : Chúa đem luật ấy đối lập với một lời Kinh Thánh khác, nói lên quan điểm của Thiên Chúa trước những thái độ loài người mà Người còn dung tha.  Làm như thế, Chúa cho thấy Người “kiện toàn Lề Luật” như thế nào (5,17), nhưng rõ ràng là “luật Thiên Chúa” đây, chỉ có những ai đã được Chúa Giê-su ban cho Thần Khí mới có thể tuân giữ. Phản ứng các môn đệ làm nổi bật điều ấy (c.10).  Thà đừng lấy vợ còn hơn. Như thường lệ, Chúa Giê-su không rào trước đón sau để đưa ra những đòi hỏi rất nhặt. Trái lại, Người đề nghị những cái còn khó chấp nhận hơn nữa. Người khen ngợi những ai được ơn chọn sống độc thân vì yêu mến Nước Trời.  

* 19,16
 X. phần bình giải Mc 10,17. Đây là một câu hỏi đặt ra với Chúa Giê-su. Người thấy nó có những khía cạnh khác nhau và đưa ra ba câu đáp : Chỉ có một Đấng tốt lành mà thôi. Người thanh niên này bị thu hút bởi con người của Đức Giê-su, và Đức Giê-su lại đưa anh đến Chúa Cha, như Người vẫn thường làm. Quả là có một thứ bẻ cong đức tin Ki-tô giáo, nguy hiểm vì nó rất tinh vi : đó là chỉ nói về Đức Giê-su mà thôi : “Đức Giê-su nhìn bạn... Đức Giê-su yêu bạn... Đức Giê-su là tình yêu...” trong khi Đức Giê-su lại hoàn toàn quy hướng về Chúa Cha và Đức Giê-su đã đến là để đưa dẫn chúng ta về với Chúa Cha. Yêu mến Chúa Cha nghĩa là muốn nên hoàn hảo theo cách thức của Chúa Cha và làm việc cho Vương Quốc của Người. Trước tiên phải được tự do đã, và người giàu này sẽ chỉ tự do nhờ sự khó nghèo tự nguyện. Người thanh niên này cũng muốn biết làm thế nào để được hưởng sự sống đời đời, và Chúa Giê-su cuối cùng sẽ nói rõ với các môn đệ rằng dù cho người ta có tuân giữ các điều răn đi nữa, sự sống đời đời không phải là cái người ta “xứng” được lãnh nhận : ơn cứu độ luôn là một ân huệ Thiên Chúa ban cho. Sau hết, có vấn đề chúng ta quan tâm nhiều nhất vì nó đụng đến tiền bạc, và ở điểm này thì Tin Mừng lại làm cho chúng ta lo lắng : Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn. Lời Chúa mời gọi người thanh niên giàu có này vẫn được coi là mẫu ơn gọi sống đời thánh hiến và tông đồ. Không có một đời sống nghèo thực thụ và tự nguyện thì không bao giờ có thể có đời sống kết hợp với Thiên Chúa, là chính mục đích mà người tu sĩ thật sự nhắm tới. Đàng khác, bao lâu người tông đồ chia sẻ cuộc sống của lớp người khá giả hơn, họ có thể kết bạn với nhiều người trong số ấy, nhưng sẽ không có được những cuộc hoán cải sâu xa. Trong khi đó, họ lại không đến được với cái thế giới mênh mông của người nghèo. Vấn đề nghèo khó ngày nay cũng là vấn đề nổi cộm trong gia đình : đối với số đông, dù có tín ngưỡng hay không, những niềm vui và phước lộc trời dành cho các gia đình đông con chỉ được ban cho những ai từ khước lấy tiền bạc và an toàn làm thước đo tất cả mọi sự.  CÁC CHỦ NHÂN  

* 20,1
 Dụ ngôn này làm cho nhiều người ngạc nhiên. Họ thấy rằng cho tất cả các người thợ được lãnh cùng một thù lao là bất công, trong khi nhóm người này thì làm việc và chịu cực nhọc lâu giờ hơn nhóm người kia. Chắc chắn Chúa Giê-su đã muốn gây sốc và xoá đi trong trí óc chúng ta cái ý tưởng cố hữu là “chúng ta đã lập công thì Chúa phải biết cho”. Nhưng cũng nên nghiên cứu kỹ hơn dụ ngôn này. Chúa Giê-su so sánh không phải người làm công này với người làm công kia, mà là nhóm người này với nhóm người kia. Cũng như bao nhiêu dụ ngôn khác, đây là một “dụ ngôn về Nước Trời” : mỗi nhóm tiêu biểu cho một quốc gia hay một tầng lớp xã hội, và trong khi một số đã được đón nhận lời Chúa từ lâu, số nhóm kia vừa mới đạt tới đức tin thôi.  Qua bao nhiêu thế kỷ, Thiên Chúa kêu gọi nhiều dân tộc khác nhau làm việc trong vườn nho của Người. Trước hết, Người gọi ông Áp-ra-ham và giao cho dòng dõi ông thể hiện công trình của Người trong thế giới. Sau đó, vào thời ông Mô-sê, nhiều nhóm người khác đã nhập đoàn với nhóm dân ông để ra khỏi nước Ai-cập, và cứ tiếp tục như vậy trong suốt chiều dài lịch sử. Những người kỳ cựu không ngừng đòi quyền được đãi ngộ tốt hơn kẻ khác ; thật ra vườn nho đâu phải được giao cho họ độc quyền trông coi. Tiếp theo, khi Chúa Ki-tô đến, Tin Mừng được loan báo cho những dân tộc khác, trước đó là ngoại đạo. Họ gia nhập Hội Thánh và làm thành khối Ki-tô giáo. Và tới phiên họ cũng sẽ tự cho mình là chủ nhân Nước Trời và Giáo Hội. Ngày nay, một vài nhóm người trong xã hội kêu trách khi Giáo Hội phê bình về những đặc ân của họ và không dành cho họ vị trí hàng đầu nữa : hoá ra hồi nào tới giờ họ cứ tưởng rằng Giáo Hội là sở hữu của họ. Trong dụ ngôn, mọi người đều ngang hàng với nhau hết và nhận cùng một quan tiền như nhau. Chớ gì ai nấy vui mừng vì, đang lúc thất nghiệp, lại được kêu đi làm việc !  

* 20,20
 X. phần bình giải Mc 10,35. So sánh Mt 20,23 với Mc 10,40.  

* 21,1
 X. phần bình giải Mc 11. Mt, Mc và Lc bố trí vụ con buôn trong Đền Thờ ngay trước cuộc Thương Khó. Ga thì ngược lại, đặt nó ở đầu sứ vụ Chúa Giê-su. Vậy một lần nữa chúng ta thấy rằng mỗi tác giả sách Tin Mừng xếp đặt các biến cố theo bố cục mình đã lựa chọn để triển khai mầu nhiệm Cứu Độ. Mục đích của các ông không phải là viết một cuốn về cuộc đời Chúa Giê-su trong đó mọi sự kiện đều được kể lại đúng y theo thứ tự đã xảy ra. Hơn nữa, nhiều chi tiết về cuộc rước Chúa vào thành Giê-ru-sa-lem gợi nhớ lễ Lều (cử hành vào tháng 9 dương lịch) hơn là những ngày trước lễ Vượt Qua : – cảnh vật mang bầu khí hân hoan phù hợp với lễ Lều hơn, vì đây là lễ hội có tính cách dân gian nhất ; – những cành lá được phất lên như trong cuộc rước tiến về hồ Si-lô-ác, trong điệu hát Tv 118 : Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa ! và những tiếng tung hô “Hô-san-na !” (nghĩa là “cứu chúng tôi !”). – Núi Ô-liu được nhắc tới : đây là nơi mà người ta dựng lều bằng lá với cành cây. Về mục này, xem Dcr 14,16 : nói về lễ Lều và tiên báo cuộc tẩy uế Đền Thờ.  Có thể các tác giả sách Tin Mừng đặt cuộc rước Chúa vào Giê-su-sa-lem vào những ngày trước lễ Vượt Qua đơn giản, vì lý do các ông chỉ kể có một lần Chúa Giê-su đi vào Thành thôi. Thầy trò tới làng Bết-pha-ghê. Ngôi làng nhỏ bé này nằm cạnh cổng thành. Theo Luật Mô-sê thì phải mừng lễ Vượt Qua tại Giê-su-sa-lem, nhưng thành đô nhỏ hẹp quá, không đủ chứa hàng trăm ngàn khách hành hương đến mừng lễ. Vậy cần phải nới rộng ranh giới pháp lý của Giê-su-sa-lem và lồng vào đó các làng mạc như Bết-pha-ghê. Trong những ngày ấy, Chúa Giê-su ở trọ tại Bê-ta-ni-a (21,17).  Lừa mẹ “và” lừa con. Ở đây chúng ta gặp lại cái tật cố hữu của tác giả Mt : ông luôn có khuynh hướng “thấy nhất hoá nhị”, ở đây cũng như ở 8,28 ; 9,27 ; 10,29 ; 20,30. Ngài cho miệng con thơ trẻ nhỏ cất tiếng ngợi khen. Câu thánh vịnh này là lời thưa với Thiên Chúa, nhưng Chúa Giê-su áp dụng cho bản thân Người, như Người còn làm trong những hoàn cảnh khác nữa.  

* 21,12
 X. phần bình giải Mc 11,15. Chúa Giê-su tẩy uế Đền Thờ, làm ứng nghiệm lời sấm Dcr 14,21. Ngôn sứ Ma-la-khi xưa kia cũng đã từng tiên báo Đức Chúa sẽ đến tẩy luyện dân Người và Đền Thờ. Trên cương vị ngôn sứ, Chúa Giê-su đến yêu cầu có sự tôn kính đối với Thiên Chúa. Trên cương vị Thiên Chúa, Người khai mở một giai đoạn mới trong lịch sử thánh : phụng sự Thiên Chúa trong thần khí và sự thật. Tác giả Ga cũng hiểu biến cố này như thế khi nói về Đền Thờ mới là Đức Ki-tô (Ga 2,21).  

* 21,18
 Chuyện xảy ra trên đây giúp chúng ta hiểu được cách hành xử kỳ lạ của Chúa Giê-su : tìm trái vả đang khi không phải mùa, rồi lại nguyền rủa cây vả như thể nó phải lãnh lấy trách nhiệm vậy. Hành động ở đây của Chúa là để gây chú ý cho các Tông Đồ theo kiểu giảng dạy của các ngôn sứ. Cây vả là hình ảnh dân Do-thái đã không sinh hoa trái như Thiên Chúa mong đợi. Phải chăng nên nói : đó là hình ảnh dân Chúa hiện nay, sinh quá ít hoa trái ! * 21,23Chúa Giê-su là một người mà ngày nay chúng ta sẽ gọi là giáo dân thường. Người kính trọng hàng tư tế trong dân Chúa và các thượng tế của họ. Nhưng Người cho thấy rằng nếu họ muốn người ta trả lẽ thì họ cũng phải sẵn sàng trả lời về những gì liên quan đến Thiên Chúa khi dân có nhu cầu hiểu biết. Thế mà họ không muốn đưa ra những câu trả lời như vậy về ông Gio-an Tẩy Giả.  

* 21,28
 Rất nhiều người tội lỗi đã trở lại sau khi nghe ông Gio-an rao giảng, và xưng thú tội mình. Vậy họ đúng là những người có thể đón nhận thông điệp của Chúa Giê-su mở rộng Nước Trời cho họ và bày tỏ cho thấy gương mặt thật của Thiên Chúa Cha. Chính vì lý do đó mà họ là những người vào Nước Thiên Chúa trước các thượng tế và kỳ mục, vì những người này, vốn không ước ao cũng chẳng thấy cần có lòng sám hối, đã dửng dưng không hưởng ứng lời kêu gọi của ông Gio-an.  

* 21,33
 X. phần bình giải Mc 12,1. Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi. Lời nói này của Chúa Giê-su đâu chỉ nhằm dân Do-thái đương thời mà thôi : hãy nhìn xem tình trạng lão hoá và cằn cỗi về phương diện tông đồ của bao nhiêu khu vực trong Giáo Hội chúng ta giữa một xã hội tự nó chọn cái chết, khi chấp nhận để cho đủ thứ dâm loạn và lòng hám bạc giết chết tổ chức gia đình và bóp nghẹt mọi lẽ sống. Trong khi đó những dân tộc khác đấu tranh và chinh phục được, những Giáo Hội khác đi khắp nơi, và theo cách của họ, giỏi hay dở, làm công việc loan báo Tin Mừng. Và chúng ta phải nghĩ sao, nếu trong kế hoạch của Thiên Chúa, Người phải ban Nước (của Người) cho những dân tộc khác, vì chúng ta đã không biết xả thân phục vụ cho Nước ấy ?  TIỆC CƯỚI   


* 22,1
 Dụ ngôn này có hai phần. Trong phần thứ nhất, Thiên Chúa mời chúng ta đi dự tiệc, nơi đó có chỗ cho mọi người. Suốt chiều dài lịch sử, Người đã sai phái các ngôn sứ của Người đi rao giảng công bằng, lòng thương xót của Người và lòng tin tưởng vào Người. Nhưng vì không nghe lời Thiên Chúa mời gọi, nên dân Do-thái càng không nghe Chúa Giê-su. Tuy vậy kế hoạch Thiên Chúa đâu bị thất bại. Người sai các Tông Đồ đi rao giảng Tin Mừng cho các dân ngoại : các ngươi đi ra các ngã đường, để cho người không phải gốc Do-thái cũng được gia nhập Giáo Hội. Nhưng một số người Do-thái, số ít người được chọn trong số bao nhiêu người được gọi, sẽ là những thành viên tiên khởi của Hội Thánh. Nhà vua mở tiệc cưới cho con mình là Chúa Ki-tô, xứng đáng được gọi là đấng phu quân của nhân loại (Mc 2,19) vì đã hợp nhất nó nên một thân thể để được kết hợp với Người. Trong suốt lịch sử, Chúa Ki-tô Phục Sinh quy tụ những con người phải chết và bị chia rẽ. Thần Khí Thiên Chúa sẽ biến đổi và cho họ sống lại để họ có thể, như trong dụ ngôn, dự tiệc dành cho kẻ sống. Thánh lễ là bàn tiệc duy nhất của Chúa Ki-tô mà bao nhiêu người Ki-tô hữu đã biết đến. Khi tham dự, không được quên những điều vừa được nêu trên. Cuộc họp mặt của chúng ta trong thánh lễ phải nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa mời gọi chúng ta, qua cuộc sống hằng ngày, chuẩn bị sẵn sàng tham dự tiệc cưới dành cho toàn thể nhân loại. Nhiệm vụ chúng ta là làm sao cho tất cả mọi người hợp nhất và hoà giải với nhau. Mà nếu chúng ta không hưởng ứng thì sao ? Bấy giờ, sức sống của Hội Thánh toàn cầu sẽ từ từ rút ra khỏi các buổi họp mặt của chúng ta –những Ki-tô hữu sống vô tư thoải mái–, và kẻ khác sẽ được gọi đi làm công việc của Thiên Chúa : Hãy mời vào tiệc cưới.  Tiếp đến là phần thứ hai của dụ ngôn : Các bạn là những người đã ở trong Hội Thánh rồi, các bạn có mặc áo mới không ? Đây là chiếc áo trắng được nói tới trong Kh (7,13-14), là đức tin, là chiếc áo của những ai đã không cậy vào sức mình mà tìm cách biến thành “những người đàng hoàng”, nhưng là những ai đã “tin” rằng Chúa Giê-su có thể biến những người có tội như họ trở thành những vị thánh trong Nước của Người. Đừng tưởng người khách không mặc y phục lễ cưới là một người nghèo. Theo tục lệ thời đó, người ta cấp cho tất cả các thực khách y phục mà họ phải mặc trong bữa tiệc. Người khách này đáng lẽ đã có rồi mà lại không mặc vào, nên đã câm miệng không nói được gì. * 22,14Kẻ được gọi thì nhiều (c.14). Một số người lo lắng khi đọc câu này : như vậy thì chỉ có vài người được cứu thôi sao ? Nếu chúng ta áp dụng câu này vào phần thứ nhất của dụ ngôn, thì nghĩa là trong số những người được mời, chỉ có ít người được dự tiệc thôi. Những khách mời ấy là người Do-thái, và thật vậy, rất ít người trong số họ gia nhập Hội Thánh Chúa Giê-su : được Thiên Chúa tuyển chọn làm dân riêng của Người (Xh 19,5), họ đã không biết nhận ra, nơi Chúa Giê-su, Vua Đa-vít mới đến thống nhất Ít-ra-en của Thiên Chúa (Ed 34,23-31 ; Gl 6,16). Nhưng cũng phải công nhận là câu này được gặp thấy nhiều lần trong sách Tin Mừng, và có lẽ không nên nối kết nó quá chặt chẽ với dụ ngôn này.  

* 23,1
 Bài diễn từ thứ năm trong Mt bắt đầu từ đây. Chỉ còn ít ngày nữa là Chúa Giê-su sẽ rời khỏi thế gian, và Mt đặt vào thời điểm này những lời nói và dụ ngôn của Chúa khả dĩ soi sáng các môn đệ phải có thái độ nào trước những gì các ông sẽ chứng kiến.  Vừa mới khai sinh, Hội Thánh sẽ phải đương đầu với sự chống đối mãnh liệt của các quyền lực Do-thái giáo, đặc biệt của phái Pha-ri-sêu. Vậy Hội Thánh phải đi trọn con đường của mình và chia tay với các cộng đoàn Do-thái giáo. Đó là ý chính của ch. 23. Ch. 24 tuyên bố Thiên Chúa sẽ xác nhận cuộc chia tay này qua biến cố Ít-ra-en mất nước.  Bấy giờ Hội Thánh sẽ phải hướng về tương lai và chờ đợi Chúa Ki-tô trở lại. Không phải mất giờ ngồi đó chờ ngày tận thế, nhưng có thái độ sẵn sàng là tỉnh thức một cách tích cực.  QUYỀN BÍNH TRONG ĐẠO  

* 23,2
 Chúa Giê-su không thuộc chi tộc Lê-vi như các tư tế. Người cũng không thuộc một đảng phái tôn giáo nào, như phái Pha-ri-sêu chẳng hạn. Người thuộc hàng ngũ nhân dân và nhìn xem cung cách hành động của các nhà lãnh đạo dân Chúa cũng như thành phần ưu tú có tổ chức bên đạo.  Rõ ràng là tác giả sách Mt muốn cho lời nói của Chúa Giê-su nhằm trúng các nhân vật quan trọng trong các cộng đoàn sẽ là độc giả tác phẩm của ông : vào thời đó, Chúa đã xét đoán trước như thế các vị nắm quyền trong Giáo Hội của Người, và hiểu theo nghĩa rộng, bất cứ nhóm người nào tự cho mình là tốt đẹp nhất, có ý thức nhất, hữu hiệu nhất. Nhóm Pha-ri-sêu tự cho là mình có những đức tính ấy, mà nói vậy là đúng, theo một nghĩa nào đó.  Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy. Cách nói hơi mỉa mai này muốn cho hiểu rằng những người có tham vọng chia nhau những vị thế ngon lành trong dân Thiên Chúa, và Thiên Chúa chịu đựng họ trong mức độ nào đó. Ở đây, Mt nhắc nhở chúng ta về sự bình đẳng căn bản giữa các tín hữu trong Giáo Hội. Đối tượng lãnh nhận Chúa Thánh Thần là cộng đoàn, và các người có trách nhiệm hoặc các ráp-bi không có quyền hành gì nếu họ không phải là thành phần tích cực trong đời sống cộng đoàn. Thánh Phao-lô sẽ dùng hình ảnh “đầu với thân thể” để nói về Chúa Giê-su với Hội Thánh (Ep 5,25). Trong Giáo Hội cũng thế, quyền bính của giám mục đi đôi với lòng trung thành của ngài đối với Giáo Hội mà ngài cai quản ; ngài đã nhận Giáo Hội trong thực chất của nó, và không tìm cách áp đặt cho Giáo Hội những dự định của riêng mình. Tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm. Gương xấu từ những người có chức quyền không làm mất uy tín của lời Chúa và cũng không huỷ được bổn phận vâng phục. Nếu Chúa Giê-su đã bảo phải nghe lời các người kế vị ông Mô-sê, thì chúng ta càng phải nghe lời các người kế vị các Tông Đồ hơn nữa. Các ông đâu có thể khước từ quyền bính của mình với cái cớ phải phục vụ trong khiêm tốn và chỉ còn là những người thừa hành những cái được đa số quyết định ! Chúa Giê-su nói về hình thức quyền hành. Đừng để ai gọi mình là “ráp-bi” hay là cha. Đừng gọi là “ráp-bi”, tức là người có hiểu biết thường làm cho người ta câm miệng ; cũng đừng gọi là cha, người làm cho ai nấy tôn kính và học theo, đến nỗi sẽ quên nhìn lên Đấng duy nhất tốt lành. Trong Giáo Hội, không ai được che khuất hình bóng của Cha trên trời, Đấng chỉ có một. Dĩ nhiên, mọi người sẽ nói rằng tiếng “Cha” chỉ nói lên một lòng yêu kính mà thôi, nhưng lời Chúa nói khẳng định rằng tên gọi này có những hậu quả rất xấu. Đức tin tinh tuyền, cái làm cho người ta chỉ phục tùng một mình Thiên Chúa, luôn bị tổn thương bởi việc tôn sùng cá nhân. Giáo Hội phải là một cộng đoàn những người tự do, thành thật với nhau trong lời ăn tiếng nói.   

* 23,13
 Các người khoá cửa Nước Trời. Nhiều người thầy trong dân Chúa là một chướng ngại vật trên con đường thật sự hiểu biết Thiên Chúa Cha ; ngay trong những làng mạc xa xôi nhất, người Do-thái cũng có những thầy dạy Luật, nhưng thật ra, dân chúng đến với Chúa Giê-su để hỏi Chúa những gì mà các thầy ấy không truyền đạt được.  Làm sao quên được rằng ngay trong Giáo Hội, việc giáo dục đời sống thiêng liêng thường bị giới hạn trong những việc đạo đức và giữ các điều răn. Nếu được tập lắng nghe và suy gẫm lời Chúa thì người ta sẽ nhạy bén với những kỳ vọng cao đẹp biết bao, để tìm gặp Thiên Chúa và có óc sáng tạo trong việc tông đồ.  Các người bảo : “Ai chỉ Đền Thờ mà thề” (cc. 16-22). Chúa Giê-su nói về những lạm dụng xảy ra vào thời ấy. Một số người trong bậc thầy tìm những chứng cứ để khỏi phải giữ tất cả các lời thề. Sau này người ta gọi đó là khoa thần học giải nghi. NHỮNG NGƯỜI BẢO VỆ ĐỨC TIN Làm sao Chúa Giê-su đã có thể gọi là giả hình những người gắn bó với đức tin như thế ?  Trong ngôn ngữ Chúa dùng, từ giả hình cũng chỉ về kẻ hờ hững, kẻ coi thường những gì liên quan đến Thiên Chúa. Những người thuộc nhóm Pha-ri-sêu đâu phải là giả hình hết, dĩ nhiên, nhưng Chúa tố giác cái méo mó thường xảy ra nơi các thành phần ưu tú nhất trong đạo. Chúa kêu gọi nên cảnh giác đối với những cơ cấu do hạng người có của có văn hoá khởi xướng để rồi sau đó tưởng mình có quyền điều khiển người khác –và Giáo Hội nữa– mà chưa có thì giờ học với người nghèo đức khiêm tốn đích thực. Mầu nhiệm Thiên Chúa sâu thẳm đến nỗi không ai có thể tự nói mình có độc quyền làm kẻ phát ngôn của Người. Người Pha-ri-sêu giữ đạo, dạy dỗ người ta và có thêm nhiều tân tòng, nhưng họ không bị thiệt thòi gì khi ăn chay, bố thí. Lòng kiêu hãnh và ham tiền của họ đã có lợi trong đó rồi.  CÁC NGÔN SỨ  


* 23,29
 Một bên, chúng ta có các ngôn sứ, một bên, những kẻ giết các ngôn sứ. Kinh Thánh cho thấy các ngôn sứ có rất nhiều địch thủ trong dân Chúa, đặc biệt trong số các người lãnh đạo dân. Có một dân Thiên Chúa, mà có dân thì tất có những tổ chức, những cơ cấu để giúp dân sống trung thành với sứ mạng của nó. Nhưng dân này lại chiều theo những phản xạ và thành kiến trong xã hội, và bất cứ cơ cấu nào, dù là phát sinh bởi Thần Khí, cũng dễ trở thành nặng nề và xơ cứng với thời gian. Các ngôn sứ dễ bị lên án khi các ngài đặt lại vấn đề về việc toàn dân bằng lòng với một lối sống tầm thường, thậm chí bất trung với lời Thiên Chúa.  Bị các nước láng giềng luôn luôn kích động, dân Do-thái siết chặt hàng ngũ quanh Đền Thờ, quanh nhóm Pha-ri-sêu và những việc đạo đức. Do sức ép của sợ hãi, họ làm cái mà xã hội nào cũng làm khi cảm thấy mình bị đe doạ : họ trở thành bảo thủ đến mức cực đoan và bám lấy làm điểm tựa an toàn những cơ cấu mà Chúa đã ban cho họ trong dĩ vãng. Hiện nay chúng ta cũng thấy có hiện tượng như vậy. Thế hệ chúng ta đột nhiên thấy mình phải đương đầu với những khủng hoảng và đe doạ trong đủ mọi lãnh vực và có chiều kích toàn cầu, mà không được chuẩn bị gì hết. Tất cả những gì mình nắm chắc trước đây phải được duyệt lại, do đó trong mọi tôn giáo đều thấy xuất hiện những nhóm theo thuyết cơ bản, đưa ra một cái nhìn tự tạo an toàn bằng cách xây cho mình những pháo đài tri thức –hoặc phi tri thức– kế thừa từ trong quá khứ.  Các người bảo vệ cộng đoàn Do-thái giáo đã không sẵn sàng lắng nghe vị ngôn sứ mới của họ. Trân trọng các ngôn sứ của quá khứ và bảo tồn các Sách Thánh là một chuyện, chấp nhận lời phê bình Thiên Chúa truyền đạt tới họ, không phải từ các Sách Thánh mà từ miệng người thợ có tên là Giê-su, lại là chuyện khác. Thế là các kỳ mục trong dân đã bỏ qua cơ hội Thiên Chúa đến viếng thăm họ, và lún sâu vào con đường chắc chắn đưa dân nước họ tới chỗ diệt vong. Cộng đoàn chúng ta, trước một cơn khủng hoảng lớn, sẽ biết xây dựng một Giáo Hội khó nghèo hơn, đòi hỏi hơn không ? Chúng ta sẽ còn quan tâm đến Tin Mừng phải mang đến cho thế giới, hơn là lo lắng cho sự sống còn của bản thân hay không ?  

* 23,37
 Các ngôn sứ đã tiên báo Giê-ru-sa-lem sẽ bị tiêu diệt năm 587 như là hình phạt vì tội bất trung của Thành. Chúa Giê-su mượn lại ngôn ngữ của các ông, nhưng cảnh hoang tàn mà Người tiên báo sẽ có một ý nghĩa rộng lớn hơn vô cùng, tương xứng với sứ mạng của Người, ở vị trí trung tâm và thượng đỉnh của toàn bộ lịch sử nhân loại. Vận mệnh Chúa Giê-su tóm lược cả lịch sử : máu các ngôn sứ, máu của bản thân Người, máu các Ki-tô hữu tiên khởi (34).  Nhà các ngươi (38). Đây nói về Đền Thờ, nơi có sự hiện diện của Thiên Chúa ; thời ấy Đền Thờ là trái tim của cả nước và là nơi phụng tự. Nhưng Thiên Chúa lại lìa bỏ nó một lần nữa (Ed 8) để đồng hành với những ai đã đón nhận Chúa Giê-su và tìm gặp nơi Người Đền Thờ đích thực (Ga 2,21).  

* 24,1
 X. phần bình giải Mc 13 liên quan đến bài diễn từ quan trọng này. Bài diễn từ ở đây vận dụng thể văn khải huyền (x. Dẫn Nhập sách Kh). Trong loại thể văn này, độc giả phải chấp nhận là các biến cố lớn được những điềm thiêng dấu lạ báo trước. Do vậy mà các người thân cận Chúa Giê-su hỏi Người : Cứ điềm nào mà biết ngày Thầy quang lâm và ngày tận thế ? Diễn từ tiếp theo thu thập những lời mà Chúa đã nói trong những hoàn cảnh rất khác biệt. Chúa Giê-su từ chối những suy đoán và nhắc cho chúng ta nhớ rằng lịch sử Ki-tô giáo là một chuỗi bách hại ; Chúa khuyến khích chúng ta sống trung kiên. Trong đoạn 24,4-28, Chúa nói về một cơn gian nan khốn khổ lớn (cc. 21 và 19) sẽ xảy ra trước ngày Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, mà những người nghe Chúa sẽ chứng kiến. Có thể chạy trốn trước khi nó xảy đến (cc. 15-20). Đồ Ghê Tởm Khốc Hại (c.15) : Mt vay mượn một kiểu nói trong Đn 9.27, lần này để chỉ quân đội Rô-ma đến chiếm đóng Đền Thờ (x. phần bình giải Mc 13,14).  Đó sẽ là một thời kỳ loan báo Tin Mừng, một thời gian bắt đạo, để người Ki-tô hữu làm chứng trước thế giới Do-thái và ngoại đạo (cc. 9-14). Những người Do-thái nào đã không nhìn nhận nơi Chúa Giê-su vị cứu tinh của họ sẽ chạy theo những cứu tinh hoặc “mê-si-a” khác, trong một cuộc nổi dậy tàn khốc chống lại người Rô-ma. Trong đoạn 26-28, Chúa Giê-su cho thấy sự lầm lẫn ấy –phổ biến trong dân gian về Vị Cứu Tinh đích thực– không ăn nhằm gì với những điều sẽ xảy ra khi Người trở lại vào thời sau hết. Trong đoạn 29-31, Chúa nói về cuộc quang lâm của Người. Rồi Người lặp lại hai điều : những biến cố và điềm lạ liên quan đến cuộc cáo chung của Giê-ru-sa-lem không bao lâu nữa sẽ diễn ra (32-35). Nhưng Ngày ấy, Ngày xét xử và cũng là Ngày của Chúa (36 và 42), còn lâu nữa mới đến sau. Việc so sánh hai người đàn ông (hoặc đàn bà) đang kề vai làm việc với nhau cho hiểu rằng cuộc xét xử không phải tách biệt một dân tốt và có đức tin khỏi những dân xấu và ác ôn khác, nhưng tách rời ngay cả những người đang sống sát cánh với nhau, để người thì được đến cùng Thiên Chúa, kẻ thì phải lãnh án phạt (37-41). Tại sao Tin Mừng đặt song song ngày Giê-su-sa-lem bị tàn phá và ngày tận thế ? Đơn giản là vì tác giả nói với những người vừa mục kích cuộc tàn phá và đang chờ đợi ngày tận thế. Và đây là thời điểm mà cái nhìn Ki-tô giáo về lịch sử, với hai giai đoạn lớn của nó, bắt đầu hình thành. Trước hết là giai đoạn thời Cựu Ước. Thiên Chúa giáo dục dân Ít-ra-en và chuẩn bị nó sống như thế nào mà lịch sử và kinh nghiệm của nó soi sáng cho các dân tộc khác. Chúa Giê-su xuất hiện ở cuối giai đoạn này, lúc cả nước đang sống cơn khủng hoảng, để giúp dân Người bước một bước quyết liệt. Người nói : “Hãy tin, không thì sẽ chết.” Một số nhỏ đã tin, nhưng dân thì đã gánh chịu “cơn thịnh nộ” (Lc 21,23).  Vậy là Tin Mừng được đem đến cho các dân khác, và chúng ta bước qua thời Tân Ước. Giáo Hội giảng dạy cho các dân nước, và họ phải trưởng thành trong tư cách là dân tộc và trong tư cách là Ki-tô hữu. Kinh Thánh cho hiểu rằng tất cả sẽ kết thúc trong một cơn khủng hoảng, lần này mang tính hoàn vũ, trong đó Tin Mừng sẽ có tính chất thời sự hơn bao giờ hết : “Hãy tin, không thì sẽ chết.” Lúc bấy giờ sẽ chấm dứt thời Tân Ước cũng như thời gian lịch sử.   

* 25,1
 Ba dụ ngôn sau đó nói lên cung cách phải có trong khi chờ đợi Chúa Ki-tô trở lại : tỉnh thức và đắc lực. Dụ ngôn thứ nhất, về “mười trinh nữ”, là dụ ngôn hay nhất nói về lòng chung thuỷ. Theo tục lệ, đêm đến, các cô đợi chàng rể để đưa vào nhà cô dâu. Chàng rể đến trễ, điều mà lẽ ra không ai phải ngạc nhiên. Cô dâu thì không thấy nói tới : có lẽ các cô sẽ khám phá ra rằng ngoài họ ra không có cô dâu nào khác.  Họ ngủ thiếp đi. Mặt trời lặn rồi thì trời sẫm tối và không ai có thể làm việc được (Ga 9,4). Vậy người ta đâu còn chờ đợi họ phải làm một công việc gì, mà là có một trái tim chung thuỷ (Dc 5,2) : phải có dầu để giữ ngọn đèn luôn cháy sáng. Ở đây cũng như nhiều chỗ khác, Tin Mừng cho thấy đâu phải hễ hoán cải và hăng lên lúc ấy là đã xong : còn phải kiên trì nữa (7,24). Dự bị sẵn một lượng dầu cho bảo đảm, có nghĩa là vận dụng các phương tiện cho phép mình bền đỗ trong ơn gọi. Có người sẽ nói Mt đặt dụ ngôn này ở đây có ý dành cho các Ki-tô hữu tiên khởi, bởi vì họ đợi Chúa trở lại đã lâu mà vẫn không thấy có gì xảy ra. Sai ! Chúa Giê-su nói lời ấy cho các tín hữu mọi thời, một ngày nào đó thế nào cũng sẽ cảm thấy kiên trì là cái ách rất nặng : “Tôi đâu có biết cam kết như vậy sẽ đưa tôi đến đâu.” Chính ở điểm này mới thấy lòng trung kiên là cao cả : không thể biết trước được ; đưa tay cho Chúa nắm dẫn đi là một bước đánh liều trong cõi vô định. Trừ phi kiên tâm bền chí, không có lối đi nào khác để được cứu (Mt 24,13), nghĩa là để tìm được chính mình. Đâu phải vì là Ki-tô hữu mà chúng ta là những người tốt nhất, nhưng Chúa đã chọn chúng ta để giao cho một sứ mạng đặc biệt. Điều Người kỳ vọng trên hết ở chúng ta là trung thành và bền chí, hai món hàng quý hiếm trên trần gian, nhờ đó mà chúng ta chiếu sáng. LÀM VIỆC  – TIN TƯỞNG CHÍNH MÌNH  

* 25,14
 Chúa dùng vàng bạc để chỉ những tài năng thiên phú của chúng ta.  Đầy tớ tài giỏi và trung thành. Nghĩa là “đáng tin cậy”. Trong dụ ngôn này, không có từ ngữ tôn giáo nào cả : Chúa dựa vào cái cách đầu tư các tài năng mà đánh giá, và xem là tội khi người ta giữ lại cho mình những gì đã lãnh nhận. Đó cũng là lời tuyên án cho một xã hội trong đó ai nấy tiêu thụ cái đã nhận lãnh : được học làm người, những kiến thức đã kế thừa từ quê hương xứ sở mà không truyền lại cho con cháu, những phúc ấm ông bà để lại qua biết bao hy sinh, và có thể là lời Chúa nữa, phải tuân hành để thể hiện ý định lớn lao của Thiên Chúa trên thế giới.  Tôi sẽ giao nhiều (hơn) cho anh. Những gì chúng ta xây dựng dưới trần gian không phải là cái chung cuộc, đó mới chỉ là giàn giáo : những của cải mà Thiên Chúa sẽ tặng ban cho những ai sống trong Người sẽ còn quý hơn gấp bội.  Anh đã biết tôi gặt chỗ không gieo (c.26). Như ở Lc 18,1, Chúa Giê-su ghi nhận sự ngờ vực để bụng của chúng ta đối với Thiên Chúa, và Người vịn vào thái độ của chúng ta mà xét xử. Nếu chúng ta không mơ ước được chỗ mà chàng rể dành cho cô dâu (25,1), ít ra phải cố tránh sao cho đừng trở nên những đầy tớ vô dụng.  Có nhiều cơ hội trước mắt để đánh liều và đưa vai gánh vác công việc, mà thường thì chúng ta hay sợ không dám xung phong : “Tôi không phải là người có tư cách nhất.” – Nhưng nếu những người có tư cách lại không nhúc nhích ? Vậy hãy lấy lại cái tài năng họ đang có mà cho người khác. CUỘC PHÁN XÉT CHUNG


* 25,31
 Chúng ta biết người Ki-tô hữu là thiểu số trên thế giới. Như chúng ta hiện nay, người Do-thái thời ấy thường nghĩ tới đa số các dân tộc trên thế giới không thuộc về dân được Chúa chọn và không biết gì về các lời hứa của Người. Người Do-thái coi các dân ấy như là một đám đông dân tộc sẵn sàng “nuốt sống ăn tươi họ”, như một thế giới đáng sợ mà một ngày kia Thiên Chúa sẽ bắt phải phục tùng. Họ kêu các dân tộc ấy là muôn dân, là các dân thiên hạ.  Chúa Giê-su thì vượt lên trên cái nhìn hạn hẹp ấy, và cho chúng ta thấy Người sẽ xét xử tất cả mọi người không phân biệt gốc gác, ngày Người trở lại với tư cách là Vua muôn dân. Tất cả những ai đã chia sẻ thân phận chung của loài người mà không biết Chúa Ki-tô cũng sẽ được Người xét xử. Thật thì Người chẳng bao giờ bỏ rơi họ, nhưng đã đặt bên cạnh họ “những anh em bé nhỏ nhất của Người” như là hiện thân của Người.  Đức Vua bày ra cho thấy vô số các nghĩa cử qua đó loài người đã xây nên phần ưu tú nhất của nền văn minh nhân loại, và trước mặt Người, loài người sẽ ngạc nhiên ngắm nhìn vị Thiên Chúa mà họ đã từng yêu mến hoặc coi thường, nơi tha nhân. Mặc dù đa số họ không hề nghĩ tới thế giới bên kia, nhưng họ cũng sẽ được cho thấy Vương Quốc của Thiên Chúa với định luật duy nhất của nó là yêu thương. Giữa hai thái cực, không có số phận trung lập. Lửa là hình ảnh của cực hình dành cho những ai đã từng đày đoạ chính mình khi đóng cửa lòng mình đến độ không còn có khả năng yêu thương nữa. Thuở bình sinh, họ đã dửng dưng trước nỗi khổ của những anh chị em đồng loại bị gạt ra ngoài lề xã hội và chịu đói khát : giờ đây, ánh sáng Thiên Chúa Tình Yêu thiêu đốt họ và làm khổ họ. Mỗi lần các người không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây. Chúa Giê-su nói về người thân cận, bạn hay thù như nhau. Người không nói chuyện phục vụ cộng đoàn hay một giới, hay một dân nước nói chung. Chúng ta thường sử dụng những từ này để loại trừ đi một nhóm người không cùng một nước hay không cùng đảng phái với chúng ta. Trái lại, những ai có lòng thương người thật sự thì nhận ra anh chị em của họ mà không cần chú ý đến những nhãn hiệu : đối với họ, cái phải chú ý là những con người đang hiện hữu và đang sống cho Thiên Chúa. Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp (c.46). Ngày nay chúng ta thấy có cái gì khó chấp nhận trong cách phân loại người ta thành tốt và xấu như vậy : cái nhìn này có vẻ đã lỗi thời đối với chúng ta (x. phần bình giải Mt 13,36). Và đúng là vậy theo một nghĩa nào đó. Cho đến thời kỳ hiện đại, ta chỉ thấy những người “suy nghĩ một chiều” thôi. Người ta lướt nhìn đại khái các lựa chọn trong đời, rồi ngay khi hãy còn trẻ tuổi, người ta đã chọn đi con đường “lành” hoặc “dữ”. Sau đó cũng có những cuộc hoán cải thành tốt hoặc xấu (Ed 18), nhưng ranh giới vẫn nằm giữa người lành và kẻ dữ. Ngày nay thì đã khác nhiều, vì các lựa chọn của chúng ta trở thành hết sức phức tạp.  Vậy phải biết rằng ở đây, Chúa Giê-su dùng ngôn ngữ các ngôn sứ mà nói, lược đồ hoá các lựa chọn. Cái mà Chúa Giê-su tố giác không phải là những tội tày trời, mà là lòng ích kỷ hằng ngày ứ đầy trong cuộc đời chúng ta. Chúa nói năng như người cha răn dạy con cái : Con mà không chừa thì phải biết điều gì sẽ xảy đến ! Hy vọng phần đông nhân loại sẽ không tự ý lún chìm trong sa đoạ ; nhưng một số người lại chọn cho mình số phận hư vong một cách có ý thức ; và họ dám đi đến cùng con đường này. Nói rằng Thiên Chúa tốt lành đến nỗi Người sẽ cứu họ vào giờ chót là khẳng định điều mà Chúa Giê-su đã không hề có ý nói. Nói như vậy có nghĩa là cuối cùng rồi tất cả những gì chúng ta đã làm khi còn sống đâu có quan trọng, và sự tự do của chúng ta chỉ là một trò chơi. Những gì Chúa nói liên quan đến cuộc phán xét có giá trị cho tất cả mọi người, là Ki-tô hữu hay không. Nhưng cứ đem dụ ngôn này ra mà trưng dẫn, như thể nó hàm chứa hết tất cả mọi trách nhiệm của một Ki-tô hữu, là sai. Nhu cầu chính yếu của thế giới không phải là cơm ăn áo mặc, mà là sự thật và niềm hy vọng mà Thiên Chúa đã giao cho những kẻ Người đã chọn để chia sẻ lại cho thế giới. Người Ki-tô hữu sẽ không trung thành với sứ mạng của mình nếu chỉ biết lo việc cứu trợ, định cư, v.v, mà quên đi rằng sự sống cho loài người trước hết là lời Chúa, sự hiểu biết và lòng yêu mến Thiên Chúa mình thờ. Chúa thì luôn đi bước trước, và chúng ta cần được Chúa xử như thế. Chúa nhận lấy cho mình những gì chúng ta làm cho anh chị em chúng ta, nhưng không muốn có sự lẫn lộn giữa Người với họ.  


* 26,47
 X. phần bình giải Mc 14,43. Cái hôn của Giu-đa : đây là cung cách một môn đệ chào hỏi thầy mình, trong xã hội Do-thái thời bấy giờ.  Một người vung tay tuốt gươm ra (c.51). Ông Phê-rô mang gươm theo, như một số các Tông Đồ khác có lẽ đã từng tham gia những cuộc kháng chiến chống Rô-ma (Lc 22,38). Tất cả những ai cầm gươm. Câu này không phải lên án các quân nhân và cảnh sát cần thiết trong một thế giới bạo lực. Chúa Giê-su chỉ khẳng định rằng yếu tố thiết lập Nước Thiên Chúa, hoặc dẫn đưa vào sự sống, không phải là sức mạnh. Sức mạnh luôn luôn kéo theo cái làm chết (bằng cách này hay cách khác) những con người hay những cơ cấu sử dụng nó, ở ngay cả những nơi cần có nó.  


* 26,57
 Cáo trạng để xử Chúa Giê-su đưa ra hai mục. Mục thứ nhất : Tôi có thể phá (c.61) là sai, theo một nghĩa nào đó, nhưng nó kể lại một số khẳng định của Chúa : Người sẽ thay thế đền thờ Giê-ru-sa-lem bằng một tôn giáo khác mà trọng tâm là chính bản thân Người (Ga 2,19). Như vậy ý đồ lật đổ quyền bính xuất hiện rõ rệt.  Đối với người Do-thái, không có gì thiêng liêng cao quý bằng đền thờ Giê-ru-sa-lem, và công kích Đền Thờ cũng đồng thời là đụng chạm tới các tư tế vì chỉ có các ông mới được cử hành các lễ nghi tế tự trong đó. Khi bảo vệ những điều thiêng liêng, họ cũng bảo vệ quyền lợi riêng của họ.  Về mục thứ hai, quan trọng hàng đầu, x. phần bình giải Mc 14,53.  Đức Giê-su vẫn làm thinh (c.63). Đây không phải do coi thường những người nắm quyền phần đạo đang có mặt, mà vì Chúa thấy cãi lại họ là vô ích. Chúa làm thinh với thái độ chững chạc của những người đã trao vào tay Thiên Chúa việc bênh vực cho mình. Chính ngài vừa nói (c.64). Câu nói này cũng hàm ý Chúa Giê-su với thượng tế Cai-pha không hiểu nó cùng một nghĩa như nhau. Thời đó, cụm từ “Con Thiên Chúa” chỉ về các vua và các anh hùng giải phóng dân tộc Ít-ra-en ; nhưng Chúa Giê-su lại là Con Thiên Chúa theo một nghĩa khác. Vì vậy mà Chúa chọn lời sấm của ngôn sứ Đa-ni-en (7,13) làm cơ sở để đưa ra căn tính của mình. Lời sấm đó tiên báo một Vị Cứu Tinh, một Con Người, trực tiếp xuất thân từ nơi Thiên Chúa và cõi vĩnh hằng.   


* 26,69
 Ông Phê-rô chối Thầy thật là điều gây sửng sốt. Ông Gio-an, bạn ông và là người quen biết với gia nhân của thượng tế Cai-pha, đã đưa ông theo mình vào trong sân (Ga 18). Người đầy tớ gái đã biết ông Gio-an là ai rồi thì không nói gì với ông, chỉ nói với ông Phê-rô một câu mỉa. Không ai đe doạ gì Phê-rô, ngay cả những người chỉ nhạo ông chơi vì cái giọng quê Ga-li-lê của ông, giống như giọng nói của Chúa Giê-su. Nhưng bấy nhiêu thôi cũng đủ để ông Phê-rô mất hết tinh thần và những xác tín của mình. Đặt câu chuyện này ngay sau chứng từ của Chúa Giê-su trước mặt thượng tế, Tin Mừng Mt muốn cho thấy thái độ của ông Phê-rô tương phản với thái độ của Thầy ông. Đừng quên rằng trong Mt, ông Phê-rô là hình ảnh của người tin, nhưng cùng lúc ông là một trong số những kẻ luôn đáng bị gọi là “người kém tin”.   


* 27,1
 Tại sao Chúa bị giải ra trước Thượng Hội Đồng lần thứ hai ? Các bài trình thuật khó cho thấy sự nhất trí ở điểm này. Dường như lúc ban đêm thì Chúa bị giải ra trước mặt ông Khan-na là cựu thượng tế, mà kế nhiệm ông là năm người con trai của ông và người rể là Cai-pha. Thật sự ông còn có uy tín đối với các đại gia thuộc hàng tư tế. Nhưng đêm đó không có mặt tất cả các thành viên Thượng Hội Đồng vì đang đêm thì không thể nhóm họp cách hợp pháp, và nếu có hết 71 thành viên thì nhà ông Cai-pha không đủ chỗ chứa. Vậy Thượng Hội Đồng nhóm họp vào buổi sáng. Nhưng đối với các địch thủ của Chúa Giê-su thì cuộc hỏi cung tại tư gia đó lại là quan trọng hơn hết, nên Mt và Mc đặt vào đó tất cả những gì các ông biết về phiên toà xử Chúa Giê-su (Mt 26,57-64).   

* 27,3
 Ngay sau khi phản bội Chúa Giê-su, Giu-đa biến đi luôn và chết. Thật ra không biết chắc được ông đã chết cách nào : so sánh với Cv 1,18.  


* 27,17
 Theo những bản rất cổ chép Mt, kẻ phiến loạn này tên là Giê-su, biệt danh là Ba-ra-ba. Nếu truyền thuyết này là đúng thì tổng trấn Phi-la-tô đã đề xuất cho dân được chọn giữa ông Giê-su biệt danh là Ba-ra-ba và ông Giê-su gọi là Đấng Ki-tô. Khi đề nghị như thế, quan Phi-la-tô ngầm hy vọng dân sẽ cho thả Chúa Giê-su đi, điều mà ông không có can đảm áp đặt cho giới chức trách Do-thái giáo.  


* 27,24
 Tổng trấn Phi-la-tô lấy nước rửa tay. Đối với người Do-thái, cử chỉ này nói lên rằng bản thân ông từ chối lên án Chúa Giê-su (x. Đnl 21,6 ; Tv 26,6).  


* 27,27
 Trong dinh, hoặc sân trong, bọn lính nhạo báng Chúa Giê-su trước mặt quan tổng trấn và đám sai nha. Chúng đặt vương miện lên đầu Người (c.29). Vương miện có thể làm bằng cây sậy đan xen với những gai dài, kết lại thành hình mũ đội đầu. Bọn lính chơi cờ phế đế. Nhiều nền văn hoá xem vua là một vị thần, nhưng cũng là nạn nhân bị thiên hạ trút lên đầu trách nhiệm về mọi tai hoạ. Vì thế có rất nhiều loại cờ về việc truất phế vua chúa. Tại Giê-ru-sa-lem, đã tìm ra một phiến đá có khắc hình một bàn cờ bọn lính chơi. Trên đó có thể thấy lộ trình thử thách mà vua phải đi qua, kết thúc bằng cuộc hành hình. Bọn lính ở đây bày trò diễn chơi một thực tại mà không ngờ mình đang sống sự thật đến mức nào. Đám rước Chúa giữa một rừng lá phất đưa đến vụ nộp bắt Người, nhưng chính khi bị hạ nhục là Người được chuẩn bị để trở thành Đức Vua và Đấng Cứu Độ của anh em Người, như chuyện kể về cuộc đời ông Giu-se (St 37 – 44), hoặc như ngôn sứ I-sai-a đã phác hoạ còn mạnh mẽ hơn nữa (53). Chúa Giê-su là cứu tinh vì Người đã từng là nạn nhân. Người bẻ gãy guồng máy bạo lực bởi vì đã từng chịu đựng những đòn cực kỳ tàn nhẫn mà không trở thành tàn bạo. Trong khổ nhục, Người tỏ cho thấy sự cao cả và sức mạnh của Thiên Chúa. Chúa gánh chịu vào thân tất cả các tủi nhục của những người không ai bênh vực, đã hết đường hy vọng, là những nạn nhân hứng chịu những bạo tàn mù quáng cứ dồn dập trút xuống trên hết dân tộc này đến dân tộc khác cùng với các lãnh tụ của họ. Chúa gánh lấy tội lỗi thế gian như ngôn sứ I-sai-a đã tiên báo. Từ nay trở đi, không ai có thể nhìn lên Người mà không khám phá sự hư hỏng đồi bại của chính mình và khóc than Đấng (mình) đã đâm thâu (Dcr 12,10). Từ cuộc gặp gỡ này với một Thiên Chúa đã từng bị thù ghét và giết chết, khác xa vị Thiên Chúa được tôn thờ chốn cao xanh vời vợi, một dòng suối sẽ vọt ra để tẩy trừ tội lỗi và ô uế của loài người (Dcr 13,1). Chúng cho Người uống rượu pha mật đắng (c.34). Theo Mc, người ta cho Người một thứ rượu chua ngọt, loại dành cho lính, trộn với mộc dược để giảm đau. Thức uống này có lẽ đã được các phụ nữ từ thiện Giê-ru-sa-lem chuẩn bị sẵn, theo tập tục, những phụ nữ mà Lc nhắc tới ở 23,28. Nhưng Mt lại nói về thứ rượu pha mật đắng (một thức uống gớm ghiếc), để cho ta đoán biết Chúa đã chịu cay đắng đến mức nào vì chúng ta, và cũng để nhắc lại Tv 69,22.  Cùng bị đóng đinh với Người, có hai tên cướp (c.38). Có lẽ cũng như Ba-ra-ba, họ là những tên khủng bố bênh vực độc lập quốc gia, là kẻ thù của người Rô-ma. Trong trường hợp này, cuộc hành quyết họ làm nổi bật ân xá mà Ba-ra-ba được hưởng. Nhưng cũng có thể họ là những tên ác ôn thường tấn công và cướp bóc khách hành hương giữa các miền đồi núi bọc quanh Giê-ru-sa-lem.  Người này là vua dân Do-thái (c.37). Đối với Phi-la-tô và dân chúng nói chung, cụm từ này chỉ một lãnh tụ bênh vực độc lập quốc gia. Nhưng dân Do-thái là dân Thiên Chúa, và Chúa Cha đã quyết định họ sẽ thông phần một cách hết sức đặc biệt vào ơn cứu độ của Chúa Ki-tô. Trong thực tế, sau biến cố này, họ đã chịu nhiều thử thách và bách hại. Bao nhiêu người Do-thái vô tội đã phải đau khổ như Chúa Giê-su ; họ không tin vào Người, nhưng trông cậy vào lời hứa của Thiên Chúa và Vương Quốc công bằng của Người. Chúa Giê-su thật sự là vua của họ. Bốn chữ I.N.R.I., mà chúng ta thấy ghi trên các cây thánh giá, là các mẫu tự đứng đầu bốn chữ La-tinh, có nghĩa là “Giê-su Na-da-rét, vua (dân) Do-thái”.  

* 27,51
 Theo thể văn khải huyền, đoạn này muốn nói lên rằng cái chết của Chúa đánh dấu thời khắc ơn cứu độ chung cục đã tới : trận động đất ở đây thật ra chỉ về sự can thiệp vĩ đại của Thiên Chúa trong lịch sử. Sự xuất hiện của vong nhân là dấu chỉ cho biết các lời sấm trong Đn 12,2 (về Ngày cứu độ) đã được ứng nghiệm. Nó cũng gợi ý rằng trước khi sống lại, Chúa Giê-su đã “xuống cõi âm ty”. Lối nói cổ xưa này, mà bản kinh Tin Kính (công đồng Ni-xê-a) Việt ngữ đọc là “xuống ngục tổ tông”, có nghĩa là sau khi chết, Chúa Giê-su đã đi gặp, một cách nhiệm mầu nhưng thực thụ, những triệu triệu người đã chết trong lịch sử và tiền sử, đang mong đợi Người đến đón họ cùng đi với Người vào cõi hằng sống của Thiên Chúa.   

* 28,1
 Về các cuộc hiện ra của Chúa Giê-su nói chung, x. phần bình giải Lc 24,1. Đoạn thứ nhất ở đây cũng được viết theo thể văn khải huyền, với vị thiên thần sáng láng và một trận động đất mới. Nhưng Tin Mừng không muốn phác hoạ cuộc đi ra khỏi mồ của Chúa như một cảnh tượng đắc thắng, như độc giả có thể chờ mong. Chỉ những ai tin mới được thấy Chúa Giê-su Phục Sinh : các phụ nữ đi tìm Người sẽ thấy Người, những lính tráng và lãnh tụ không tìm Người sẽ chẳng hiểu gì cả. Mt ghi tên bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a, bà mẹ các ông Gia-cô-bê và Giô-xếp (Mt 27,55) là hai người “anh em của Chúa” (Mt 13,55), họ hàng gần nhất của Người. Bà là một người chị họ của Đức Ma-ri-a, thân mẫu Chúa Giê-su (Ga 19,25).  Chúa Giê-su đón gặp các bà (c.9). Rõ ràng là Mt nhập hai biến cố khác nhau thành một ; một bên là chuyện phát hiện ngôi mộ trống, và bên kia là cuộc hiện ra của Chúa, xảy ra sau này, với một mình bà Ma-ri-a Mác-đa-la, như Ga thuật lại ở Ga 20,11-18. Để họ đến Ga-li-lê (c.10). Tại sao có cuộc hẹn này, nếu Chúa sắp hiện ra tại Giê-ru-sa-lem nội trong ngày ấy ? (Lc 24,13-43). Sự việc không rõ chút nào, và có lẽ Mt đã cho nhiều lần Chúa hiện ra nhập lại thành một, để bài trình thuật được ngắn gọn hơn chăng. Vậy chúng ta khỏi phải tìm cách dựng lại một lộ trình nào đó của Chúa Phục Sinh.  Dù sao, các Tông Đồ cũng cần có thời gian để tin vào biến cố Phục Sinh và để hiểu một chút gì trong đó. Sau hai lần đầu Chúa hiện ra tại Giê-ru-sa-lem, trong đó Chúa tìm cách thuyết phục họ rằng Người không phải là ma hoặc là người chết hiện hồn, các ông còn phải trở về quê nhà, sống giữa dân làng của mình, xa cái thành phố đã gây bao nhiêu chấn động tâm linh cho các ông, để nghiền ngẫm đào sâu những kinh nghiệm các ông vừa sống. Tại Ga-li-lê, Chúa sẽ tỏ mình ra cách khác, làm cho họ hiểu rằng từ nay Người đã được tôn vinh rồi và sống không như trước nữa. Người chuyển đạt thông điệp đó cho một người là một phụ nữ, bà Ma-ri-a Mác-đa-la, như để cho thấy rằng, trong Giáo Hội, không phải nhất nhất đều là từ cấp trên truyền xuống. Thiên Chúa muốn ban thông tin cho ai Người muốn, và trao những thông điệp có tính cách ngôn sứ cho những người đơn sơ chất phác và cho phụ nữ.  Sự phục sinh của Chúa Ki-tô là trung tâm điểm của Tin Mừng, nhưng trình thuật của Mt lại rất ngắn gọn. Tại sao ? Thưa bởi vì, vào thời tác giả biên soạn, sự phục sinh được xem là một biến cố quá sức quan trọng để mà truyền tin qua chữ viết : phải nhường lời cho các nhân chứng kể lại thì hơn, và cũng không quên chứng từ của Thần Khí đang hoạt động trong các cộng đoàn Ki-tô hữu.  Hoàn cảnh chúng ta có khác hơn thế không ? Cộng đoàn Giáo Hội làm chứng hùng hồn về Chúa Phục Sinh không phải là một cộng đoàn có bề thế, được tuyên truyền quảng cáo thật tốt, mà là một cộng đoàn đã được phục sinh. Nếu Giáo Hội –nếu các cộng đoàn chúng ta– thấy mình luôn sống trong những điều kiện không có vẻ gì là khả quan, nhưng nhờ ơn Chúa vẫn cứ hồi sinh, thì khi ấy chúng ta có thể làm chứng cho sự phục sinh của Chúa, Đấng đã cho chúng ta cũng được phục sinh như Người.  

* 28,16
 Chúa Giê-su sai các Tông Đồđi loan báo Tin Mừng cho thế giới. Lần hiện ra cuối cùng này được kể lại một cách hết sức đơn sơ. Chúa không hiện ra đột ngột, không có ai hoảng sợ ; không có chứng minh về tính xác thực của thân thể Chúa. Điều quan trọng là những lời Chúa nói trong tư cách là Thầy. Anh em hãy dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Những huấn lệnh như thế của Chúa Giê-su chiếm vị thế hàng đầu trong Mt, được phân bố trong năm bài diễn từ, và chúng ta phải thể hiện ý muốn Chúa Cha theo như Chúa Giê-su đã mặc khải cho chúng ta biết.  Có mấy ông lại hoài nghi. Mt “vơ đũa cả nắm” như thế khi viết về những lần cuối cùng Chúa hiện ra. Đâu phải tất cả các môn đệ (Nhóm Mười Một và các người khác) đều mau chóng tin vào sự phục sinh của Chúa Giê-su.  Làm cho muôn dân trở thành môn đệ. Theo gương các thầy Do-thái đương thời, Chúa Giê-su đã quy tụ một nhóm môn đệ, họ sống chung với nhau và với Người. Thầy trò hai bên hiểu biết nhau nhờ chia sẻ đời sống hằng ngày. Ngày nay cũng giống như vậy : cần có việc chia sẻ giữa những con người với nhau trước, sau đó mới tính đến việc loan báo Tin Mừng. Loan báo Tin Mừng cho ai là giúp người ấy đào sâu những kinh nghiệm bản thân đã trải qua trong quá khứ, cho đến ngày người ấy nhận ra nơi Chúa Ki-tô, trong cái chết và sự sống lại của Người, cái chân lý làm rực sáng lên cả cuộc đời mình.  Những ai tin thì được nhận phép rửa nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, là Ba Ngôi mà Chúa Giê-su đã mặc khải cho chúng ta. Dĩ nhiên, Chúa nói về từng Ngôi một cách riêng biệt, vì Chúa Cha không phải là Chúa Con, và Chúa Con không phải là Chúa Thánh Thần. Tuy vậy, cả Ba Ngôi cũng là cùng một Thiên Chúa : các Ngài cùng mang một tên Thiên Chúa như nhau. Khi bước vào Hội Thánh, những người lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy được bước vào tình hiệp thông với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Hội Thánh trước hết là hiệp thông. Về phép rửa nhân danh Chúa Giê-su, xem Cv 19,5. Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. Chúng ta lại một lần nữa nghe xác quyết điều mà danh xưng Em-ma-nu-en diễn đạt (1,23) : Chúa Giê-su là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Cho đến tận thế. Các tín hữu thế hệ đầu tiên những tưởng không bao lâu nữa Chúa Ki-tô sẽ trở lại, nhưng vào thời Tin Mừng này được biên soạn, họ đã hiểu ra rằng lịch sử hãy còn dài ; dân tộc Ít-ra-en đã chối từ ơn cứu độ họ được tặng ban và chỉ có một số nhỏ đã tin mà thôi. Chính với số nhỏ này mà giờ đây Chúa Giê-su nói lên lời cam kết này, cũng như với các Tông Đồ và Hội Thánh của Người.  Hội Thánh Công Giáo tự thấy mình buộc phải giữ tình hợp nhất với các giám mục là những người kế vị các Tông Đồ. Có những lúc khó mà bảo tồn tình hợp nhất và sự kế vị liên tục này, và người ta thường cảm thấy nếu như thành lập, bên cạnh Hội Thánh, một cộng đoàn mới, được canh tân hẳn hoi, thì đó là điều có lẽ dễ làm hơn chăng. Nhưng lòng vâng phục thánh ý Chúa Cha là phương tiện Người dùng để thanh luyện và củng cố đức tin của chúng ta. Chúa Giê-su là –và muôn đời vẫn là– vị “Chúa” nắm giữ trong tay vận mệnh Hội Thánh “của Người”.   

  * 1,1
 Từ c.1 đến c.13, trong ba bức tranh nhỏ, Mác-cô cho thấy ba trục lớn của sách Tin Mừng : Cc. 1-7 Đấng được Thiên Chúa sai đến thì nay ông Gio-an Tẩy Giả loan báo Người xuất hiện : đó là Chúa Giê-su mà sách Tin Mừng sẽ nói đến ; chính Người là Đấng đã được tất cả các chứng nhân lớn trong Cựu Ước loan báo và chuẩn bị. Trong Người và nhờ Người, ơn cứu độ của Thiên Chúa sẽ được thực hiện. Cc. 9-10 Chúa Giê-su xuống sông Gio-đan để mở rộng cửa dẫn mọi người vào Đất Hứa đích thực. Người là Con yêu dấu của Chúa Cha và Thần Khí ngự xuống trên Người. Đức Giê-su đến mặc khải mầu nhiệm Thiên Chúa, mầu nhiệm tình yêu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Cc. 11-13 Là Đấng Mê-si-a mà ngôn sứ I-sai-a đã loan báo (Is 11), Chúa Giê-su sống hoà hợp với loài dã thú cũng như với các thiên sứ. Trong Người và nhờ Người, sự hoà giải toàn thể tạo thành với Thiên Chúa sẽ được hoàn tất.  


* 1,14
 Thiên Chúa xuống thế làm người. Chúa Giê-su chia sẻ cuộc sống của người dân cùng thời với Người. Và, cũng như các ngôn sứ, Người giảng dạy bằng lời nói và việc làm. Thời kỳ viên mãn : điều này có nghĩa gì ? Thời kỳ được Thiên Chúa ấn định đã đến hồi viên mãn (Gl 4,4 ; Ep 1,10). Thời kỳ chuẩn bị đã chấm dứt và sự xuất hiện của Thiên Chúa đã được các ngôn sứ loan báo thì nay đã đến gần. Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng : Thiên Chúa không chờ đợi con người “lập công” nhưng kêu gọi con người đến với đức tin : “Hãy gạt bỏ những gì làm các ngươi lo lắng, bận tâm, những gì ngăn cản các ngươi nghe Người, thấy Người. Và hãy tin ! Hãy tin rằng chỉ có Người và một mình Người mới có thể cứu rỗi các ngươi !” Hãy theo tôi (c.17) : Chúa Giê-su kêu gọi và tuyển dụng con người. Người đến để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối (Ga 11,52). Quy tụ các môn đệ đầu tiên chung quanh Người là một dấu chỉ nói lên điều này. Cũng vậy, qua các thế kỷ, quy tụ mọi người vào Hội Thánh duy nhất của Chúa Giê-su Ki-tô sẽ là dấu chỉ cho thấy công trình cứu độ Thiên Chúa thực hiện nhờ Con của Người. Chúa Giê-su đưa ra một lời kêu gọi tha thiết và đòi hỏi mọi người phải cùng Người làm việc cho Vương Quốc của Thiên Chúa. Lập tức họ bỏ chài lưới và theo Người (c.18), nghĩa là họ bỏ gia đình, công ăn việc làm và bắt đầu sống với Người. Cũng như các bậc thầy tôn giáo thời đó, các ráp-bi, Đức Giê-su dạy dỗ các môn đệ đầu tiên, dạy họ những điều mà họ sẽ truyền lại cho người khác trong Giáo Hội. Si-môn, An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an : Chúa Giê-su đã biết các ông : Người đã gặp họ tại nơi ông Gio-an Tẩy Giả rao giảng (Ga 1,35). Nhóm môn đệ đầu tiên thuộc số những người đánh cá trên Biển Hồ và ông Phê-rô hình như là người đứng đầu nhóm này. Chắc chắn họ là những con người trẻ trung, cởi mở, sẵn sàng, sinh sống ở một thời đại và một nền văn hoá trong đó con người ít bị ràng buộc hơn chúng ta bởi các đòi hỏi của công việc.  

* 1,21
 Khi bắt đầu rao giảng, Chúa Giê-su giảng dạy trong các hội đường. Hội đường là nhà cầu nguyện của người Do-thái. Mỗi ngày thứ bảy, họ họp nhau tại đây để hát thánh vịnh và nghe đọc Sách Thánh. Ông trưởng hội đường giảng dạy và mời các người khác tiếp lời. Chính tại hội đường mà Chúa Giê-su tỏ mình ra : Người giảng dạy không như những người khác hay như các thầy thông luật. Họ chỉ biết lặp lại, giải thích và dựa vào ý của ai đó, còn Chúa Giê-su giảng dạy nhân danh Người, như Đấng có thẩm quyền : “Quả thật, tôi bảo cho các ông biết...”   


* 1,23
 Chúa Giê-su trừ các thần ô uế tức là ma quỷ với cùng một uy quyền như khi Người giảng dạy. Bằng hành động này, Chúa Giê-su cho thấy Người đến giải thoát ta khỏi ảnh hưởng của ma quỷ đang tìm cách phá huỷ hình ảnh Thiên Chúa nơi con người. Vào thời Chúa Giê-su, có nhiều người bị quỷ ám. Vào thời Giáo Hội, tức thời đại chúng ta, cũng có nhiều người bị quỷ ám. Nhưng nói đến ma quỷ là một chuyện –trong các trường hợp này chúng ẩn mình dưới một sự rối loạn tâm thần nơi con người– còn nói đến Quỷ là một chuyện khác. Ga gọi Thần Ô Uế bí ẩn này là Thủlãnh thế gian (Ga 14,30). Ai còn tin một cách nghiêm túc vào Quỷ trong thế giới ngày nay ? Người ta không còn biết đến nó nữa có nghĩa là nó đã thắng rồi ! Hẳn là mỗi người chúng ta cũng đủ sức để tự mình làm điều xấu, nhưng có lẽ ta sẽ ít sa ngã hơn nếu biết một ai đó thông minh hơn, dài tay hơn đang giật dây sau lưng ta trong những chuyện mà ta tưởng mình làm chủ được. Quỷ luôn hiện diện trong suốt dòng lịch sử và ở mọi cấp độ hoạt động trong thế giới ngày nay để làm cho công trình sáng tạo của ta nên hư hỏng và mọi tiến bộ trở thành một ách nô lệ mới. Quỷ hoạt động trong mọi xã hội – ngay cả trong xã hội tư bản. Người ta nghĩ đến ma-fi-a, việc khai thác giới tính, thờ thần tiền của. Các phương tiện con người sử dụng để trừ “các thứ quỷ” hầu như không đem lại hiệu quả, trừ khi Thiên Chúa ra tay can thiệp. Ở đây Chúa Giê-su cho thấy –và Người cũng sẽ nói cho ta biết (3,15 ; 3,27)– rằng Triều Đại Thiên Chúa không chỉ là “lời nói gió bay” nhưng là sức mạnh tiêu diệt ma quỷ.  Quỷ nhận ra lập tức những người đe doạ vương quốc của nó và cố gắng tiêu diệt họ hoặc làm họ ra mù quáng. Vì thế, Chúa Giê-su luôn luôn đối mặt với nó.   


* 1,29
 Ở đây, lòng tin tưởng thật đơn sơ của ông Phê-rô được bộc lộ rõ ràng. Chúa Giê-su vào nhà và hay tin có người đàn bà đang nằm liệt giường. Chúa Giê-su đem bình an và sức khoẻ đến cho các bệnh nhân. Người cũng dạy ta phải thăm viếng họ như thế nào. Còn gì tự nhiên hơn thăm viếng bệnh nhân sau khi tham dự thánh lễ ! Quan tâm đến anh chị em trong Chúa Ki-tô và yêu thương họ thì làm cho ân huệ của Thiên Chúa đổ xuống trên họ. Khi mặt trời đã lặn. Đừng quên rằng đây là một ngày sa-bát, ngày nghỉ hằng tuần. Người Do-thái tính các ngày trong tuần từ khi mặt trời lặn, và đêm thì đến trước ngày, như St 1,5 đã nói. Mọi người giữ ngày sa-bát. Chúa Giê-su cũng vậy. Người ta vội vã đem những kẻ ốm đau đến với Chúa Giê-su, vừa lúc ngày sa-bát chấm dứt, vào lúc chiều về.  


* 1,35
 Từ thuở nhỏ, các Tông Đồ đã biết Thiên Chúa và cầu nguyện. Nhưng từ ngày ở với Chúa Giê-su, họ nhận thấy có cái gì khác thường nơi Người, đặt biệt, Người sống rất thân mật với Chúa Cha. Sống với Chúa Giê-su, họ cũng sẽ ao ước được biết Chúa Cha nhiều hơn phần nào, như Người biết Chúa Cha vậy (<scripRef>Lk 11:1 ; Jn 14:8 ; 15:15</scripRef>). 


* 1,40
 <b>NHỮNG NGƯỜI SỐNG BÊN LỀ XÃ HỘI</b><br><br>
Chúa Giê-su rời Ca-phác-na-um để rao giảng Tin Mừng cho những gia đình nghèo tại nông thôn. Tại đây Người gặp các <i>người mắc bệnh phong.</i> Bệnh này không chỉ là một thứ bệnh ghê tởm khi không được chữa trị, mà người ta còn xem nó là một thứ bệnh truyền nhiễm nữa. Do đó, các bệnh nhân phải sống ngoài thành thị, xa các khu dân cư. Hơn nữa bệnh phong còn được xem là một hình phạt của Thiên Chúa, nên đạo Do-thái tuyên bố người mắc bệnh phong là người bị ô uế. Chúa Giê-su giơ tay đụng vào người mắc bệnh phong và da thịt người này được sạch. Chúa Giê-su đã làm nhiều hơn là chữa lành người mắc bệnh phong : cho người đó được gia nhập lại vào xã hội và, từ lúc này, trở thành một người như những người khác và sẽ không còn bị mọi người xa lánh nữa. Luật Thiên Chúa và luật loài người sẽ công nhận phẩm giá của người phong được chữa lành. Tin Mừng không chỉ giới hạn vào lời nói mà còn tạo nên một sự thay đổi. Với Tin Mừng, sẽ không còn những người sống bên lề xã hội nữa. Đừng nói với ai (c.44). Rất nhiều lần, đặc biệt trong Mc, các người được Chúa Giê-su chữa lành hay trừ quỷ đều nhận được lệnh đừng nói gì với ai cả (<scripRef>1,25-34 ; 3,12 ; 7,36 ; 26,30</scripRef>). Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận rằng : một mặt Chúa Giê-su không ra lệnh ấy khi rao giảng ngoài phần đất Ít-ra-en ; mặt khác sau khi Chúa Giê-su hiển dung, lệnh cấm này cũng không còn duy trì nữa. Trong buổi đầu hoạt động công khai, Chúa Giê-su cấm người ta không được nói Người là ai. Lý do là vì có những quan niệm sai lạc và rất phổ biến trong dân chúng về Đấng Mê-si-a. Thật vậy, đối với họ, Đấng Mê-si-a là một tướng quân, một người báo thù. Chúa Giê-su không muốn người ta hiểu lầm về sứ vụ Người đến thực hiện. Vì vậy, Người phải chờ đợi một thời gian đủ để tách mình khỏi hình ảnh Đấng Mê-si-a này trong dân chúng, rồi mới bắt đầu tỏ cho biết Người là ai, đặc biệt cho các môn đệ. Cũng vì lý do này, khác với Mt, Mc ít dùng danh hiệu Con Thiên Chúa. Mặc dù, trong hai trường hợp, các người bị quỷ ám sử dụng danh hiệu này – mà một trường hợp thì xảy ra bên ngoài phần đất Ít-ra-en. Mc muốn dành danh hiệu này cho những thời điểm đặc biệt trọng đại trong tiến trình mặc khải Chúa Giê-su cho loài người : thời điểm Chúa chịu phép rửa và hiển dung, thời điểm kết thúc cuộc Thương Khó với lời tuyên xưng của viên đại đội trưởng, cũng như trong câu mở đầu sách Tin Mừng, câu được dùng như tên sách.  
$$Mar 2
Test

